ung thư da bệnh học
Bác sĩ sẽ giải thích về ung thư vú và các lựa chọn điều trị. Trong trường hợp này, bạn sẽ thảo luận về liệu pháp sinh học hoặc liệu pháp nội tiết. Liệu pháp nội tiết được sử dụng để ngăn chặn hormone estrogen và progesterone đến các tế bào ung thư vú. Liệu
Bệnh ung thư có thể do một số loại virus gây bệnh mãn tính (virus viêm gan B, virus gây viêm tử cung) → D sai. Chọn đáp án B. Hầu Hết Các bệNH ung thư là do đim Biến Gene Phát Sinh Trong Các tế Bào Cơ Thể Nên Khôn Chỉ khoảng hơn 10% bệNH ung thư là do gen đột biến Được truyền từ bố → a sai, c sai.
Mắc bệnh ung thư. Học viện Quân y, khi nổi hạch bạn cần xác định vị trí của hạch nằm ở đâu, tập trung nhiều ở chỗ nào, hạch nổi ở một nơi hay nhiều nơi. Phường Ô Chợ Dừa, Quận Đống Đa, TP Hà Nội. Tel: (84-24) 73 00 24 24 hoặc (84-24) 3512 1806 - Fax: (84-24) 3512
Khoa Hóa trị ung thư: Khoa Lồng ngực - Mạch máu: Khoa Nội thận - thận nhân tạo: Khoa Mắt: Khoa Nội cơ xương khớp: Khoa Tạo hình Thẩm mỹ: Khoa Da liễu - Thẩm mỹ da Khoa Phẫu thuật tim mạch người lớn: Khoa Niệu học chức năng: Khoa Phẫu thuật tim trẻ em: Khoa Tuyến vú
Theo bệnh học chuyên khoa, ung thư tử cung là sự tăng trưởng và gia tăng bất thường, không kiểm soát được của các tế bào nội mạc tử cung hoặc mô cơ. Ngoài các yếu tố hormone và bên ngoài góp phần gây ung thư tử cung, di truyền cũng đóng vai trò rất lớn.
Phạm Hoàng Hà, ung thư dạ dày là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến, dễ di căn. Có một tỷ lệ lớn bệnh nhân mắc ung thư dạ dày trước đó có tiền sử mắc các bệnh về dạ dày như viêm loét dạ dày, nhiễm vi khuẩn HP. Bên cạnh đó, cũng có thể do tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá, ăn nhiều thực phẩm nướng, lên men…
Vay Nhanh Fast Money. Mặc dù ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới nhưng tỷ lệ sống đang được cải thiện nhờ những tiến bộ trong sàng lọc tế bào ung thư và điều trị. 1. Ung thư là gì? Ung thư là tập hợp các bệnh lý đặc trưng bởi sự phát triển bất thường của các tế bào phân chia không kiểm soát và có khả năng xâm nhập, phá hủy các mô cơ thể bình hết, các tế bào trong cơ thể có chức năng cụ thể và tuổi thọ cố định. Trong quá trình điều hòa, một tế bào nhận được chỉ thị để chết và cơ thể có thể thay thế nó bằng một tế bào mới hơn hoạt động tốt hơn. Với các tế bào ung thư thiếu các yếu tố hướng dẫn chúng ngừng phân chia và chết. Kết quả dẫn đến sự tích tụ trong cơ thể, sử dụng oxy và chất dinh dưỡng thường nuôi dưỡng các tế bào tế bào ung thư có thể xuất hiện ở một khu vực, sau đó lan rộng qua các hạch bạch huyết. Một số loại ung thư gây ra sự phát triển tế bào nhanh chóng, trong khi những loại khác làm cho các tế bào phát triển và phân chia với tốc độ chậm hơn 100 loại ung thư khác nhau. Ung thư thường được gọi tên theo cơ quan mà nó phát sinh, ví dụ Ung thư phổi phát sinh từ các tế bào ở phổi, ung thư đại tràng phát sinh từ các tế bào ở đại tràng. Ung thư cũng có thể được gọi theo loại tế bào hình thành chúng như ung thư biểu mô carcinoma hay ung thư mô liên kết sarcoma. Ngoài ra các ung thư có thể phát triển từ máu, như là các bệnh máu ác tính. Ung thư thường được gọi tên theo cơ quan mà nó phát sinh như ung thư gan 2. Khác biệt nào giữa tế bào ung thư và tế bào lành ? Các tế bào ung thư khác với các tế bào bình thường là các tế bào ung thư ít chuyên biệt hơn các tế bào bình thường. Ngoài ra, các tế bào ung thư có khả năng phớt lờ các tín hiệu mà thông thường ngăn cản quá trình phát triển và phân chia tế bào như là các tín hiệu chết tế bào theo chương trình – các tín hiệu giúp cơ thể loại bỏ các tế bào không cần thống miễn dịch thông thường có khả năng loại bỏ và tiêu diệt các tế bào bị tổn thương hoặc các tế bào bất thường khỏi cơ thể, tuy nhiên các tế bào ung thư có thể “tàng hình” trước hệ thống miễn dịch. Hơn nữa, chúng còn có khả năng lợi dụng hệ thống miễn dịch, có thể tránh được đáp ứng miễn dịch của cơ thể để tồn tại và phát tế bào ung thư có thể ảnh hưởng đến các tế bào, phân tử và mạch máu bình thường bao quanh và nuôi dưỡng khối u. Một khu vực được gọi là môi trường vi mô. Ví dụ, các tế bào ung thư có thể tạo ra các tế bào bình thường gần đó để hình thành các mạch máu cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho khối u. Những mạch máu này cũng loại bỏ các chất thải từ các khối u. 3. Triệu chứng bệnh ung thư Các dấu hiệu và triệu chứng gây ra bởi ung thư sẽ thay đổi tùy thuộc vào phần nào của cơ thể bị ảnh hưởng cũng như giai đoạn phát triển của cơ bản, ở giai đoạn sớm, cơ thể sẽ khó nhận thấy những dấu hiệu khác biệt. Tuy nhiên, một số dấu hiệu và triệu chứng chung liên quan nhưng không đặc hiệu với ung thư có thể kể đến bao gồmMệt mỏiThay đổi cân nặng bất thường, bao gồm giảm hoặc tăng ngoài ý đổi da, như vàng, sạm hoặc đỏ da, vết loét không lành hoặc thay đổi nốt ruồi hiện cóHo dai dẳng hoặc khó thởKhó nuốt, khàn tiếngKhó tiêu dai dẳng hoặc khó chịu sau khi ănĐau cơ hoặc đau khớp dai dẳngChảy máu không rõ nguyên nhân hoặc bầm tím Mệt mỏi là dấu hiệu thường gặp nhất của ung thư 4. Nguyên nhân gây ung thư Đột biến DNA Ung thư được gây ra bởi những thay đổi đột biến DNA trong các tế bào. DNA bên trong một tế bào được đóng gói thành một số lượng lớn các gen riêng lẻ, mỗi gen chứa một bộ hướng dẫn cho tế bào biết chức năng nào sẽ thực hiện, cũng như cách phát triển và phân chia. Lỗi trong hướng dẫn có thể khiến tế bào ngừng hoạt động bình thường và có thể cho phép tế bào bị ung đột biến này là những đột biến phổ biến nhất được tìm thấy trong ung thư. Nhưng nhiều đột biến gen khác có thể góp phần gây ung thư. Đột biến DNA là nguyên nhân gây ung thư Lối sống thiếu khoa học Lối sống hằng ngày cũng được xét đến là một yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư. Hút thuốc, uống nhiều hơn một ly rượu mỗi ngày đối với phụ nữ ở mọi lứa tuổi và nam giới trên 65 tuổi hoặc hai ly mỗi ngày đối với nam giới từ 65 tuổi trở xuống, tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời hoặc bị cháy nắng thường xuyên, bị béo phì và quan hệ tình dục không an toàn có thể góp phần gây ung thư. Do di truyền Nếu ung thư là phổ biến trong gia đình bạn, có thể các đột biến đang được truyền từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo. Bạn có thể làm xét nghiệm di truyền để xem có di truyền đột biến làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư hay không. Hãy nhớ rằng có một đột biến di truyền không nhất thiết là bạn sẽ bị ung số bệnh sức khỏe mãn tính, chẳng hạn như viêm loét đại tràng, có thể làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển bệnh ung thư. Vì vậy, với những người mắc các bệnh mãn tính, cần gặp bác sĩ và theo dõi sức khỏe thường xuyên. Yếu tố di truyền làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư Ô nhiễm môi trường Môi trường xung quanh chứa các hóa chất độc hại có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Ngay cả khi bạn không hút thuốc, bạn vẫn có thể hít khói thuốc nếu bạn đến nơi mọi người đang hút thuốc hoặc nếu bạn sống với người hút thuốc. Hóa chất trong nhà hoặc nơi làm việc, chẳng hạn như amiăng và benzen, cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư. 5. Ung thư phát triển như thế nào? Khối u cũng được chia làm 2 loại. U lành tính và u ác u lành tính sẽ tăng trưởng đến một mức nào đó rồi dừng lại. Còn những khối u ác tính sẽ tăng trưởng không giới hạn. Tế bào tăng trưởng quá mức dẫn đến mức chèn ép, gây tổn thương đến những tế bào lân cận. Nó sẽ không dừng lại cho đến khi không còn gì để phá. Tồi tệ hơn là khi những tế bào ác tính này di căn di chuyển sang những khu vực khác gây nguy cơ tử vong như não, tim, phổi,...Ung thư được sinh ra bởi sự biến đổi của các gen kiểm soát chức năng tế bào, đặc biệt là các gen kiểm soát quá trình phát triển và phân chia tế nhà nghiên cứu nhận ra rằng trong mỗi tế bào ung thư chứa nhiều đột biến. Có một số đột biến có thể thấy ở nhiều dạng ung thư khác nhau. Các ung thư giống nhau về hình thể mô học nhưng đáp ứng điều trị khác nhau, và vì thế tiên lượng cũng rất khác nhau. Ví dụ, nhóm các ung thư đại trực tràng không có đột biến KRAS và BRAF có tiên lượng tốt hơn nhóm có đột biến một trong hai gen trên. Vì vậy, tần số và các loại đột biến gen hiện nay được sử dụng phổ biến để phân chia dưới nhóm ung thư. Ung thư ác tính có thể di căn sang các bộ phận khác Mắc ung thư có thể gây ra một số biến chứng, bao gồmCảm giác đau đớn. Đau có thể do ung thư hoặc điều trị ung thư, mặc dù không phải tất cả ung thư đều mỏi. Mệt mỏi ở những người bị ung thư có nhiều nguyên nhân, nhưng thường có thể được kiểm soát. Mệt mỏi liên quan đến hóa trị hoặc xạ trị là phổ thở, buồn chảy hoặc táo bón. Ung thư và điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến ruột của bạn và gây ra tiêu chảy hoặc táo cân do tế bào ung thư sử dụng dinh dưỡng từ các tế bào bình đổi chuyển hóa trong cơ thể của bạn. Ung thư có thể làm đảo lộn sự cân bằng chuyển hóa bình thường trong cơ thể của bạn và làm tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Các dấu hiệu và triệu chứng của sự mất cân bằng chuyển hóa có thể bao gồm khát nước quá nhiều, đi tiểu thường xuyên, táo đề về não và hệ thần kinh. Khối u có thể đè lên các dây thần kinh gần đó, gây đau và mất chức năng của một bộ phận trong cơ thể. Ung thư liên quan đến não có thể gây ra đau đầu và các dấu hiệu và triệu chứng giống như đột quỵ, chẳng hạn như yếu ở một bên cơ ứng hệ thống miễn dịch bất thường với ung thư. Trong một số trường hợp, hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể phản ứng với sự hiện diện của ung thư bằng cách tấn công các tế bào khỏe mạnh. Được gọi là hội chứng paraneoplastic, những phản ứng rất hiếm gặp này có thể dẫn đến một loạt các dấu hiệu và triệu chứng, chẳng hạn như đi lại khó khăn và co ung thư tiến triển, nó có thể lan rộng di căn đến các bộ phận khác của cơ thể. Những người được điều trị sau ung thư vẫn có nguy cơ tái phát. Bạn cần được tư vấn từ bác sĩ để có thể đưa ra một kế hoạch chăm sóc theo dõi. Kế hoạch này có thể bao gồm quét định kỳ và kiểm tra trong thời gian sau điều trị để tìm kiếm sự tái phát ung thư. Bệnh ung thư khiến người bệnh bị giảm cân đột ngột 7. Phương pháp điều trị ung thư Các bác sĩ thường đưa ra phác đồ điều trị dựa trên loại ung thư, giai đoạn chẩn đoán và sức khỏe tổng thể của người bệnh. Dưới đây là một số phương pháp điều trị ung thư hiện nayHóa trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư bằng các loại thuốc mục tiêu đến các tế bào đang phân chia bất thường. Các loại thuốc cũng có thể giúp thu nhỏ khối u, nhưng tác dụng phụ thường nghiêm pháp hormone liên quan đến việc dùng các loại thuốc thay đổi hoạt động một số hormone hoặc can thiệp vào khả năng sản xuất của cơ thể. Khi hormone đóng một vai trò quan trọng, như với ung thư tuyến tiền liệt và vú, đây là một cách tiếp cận phổ pháp miễn dịch sử dụng thuốc và các phương pháp điều trị khác để tăng cường hệ thống miễn dịch và khuyến khích nó chống lại các tế bào ung thưY học chính xác, hay y học cá nhân hóa, là một cách tiếp cận mới hơn, đang phát triển. Nó liên quan đến việc sử dụng xét nghiệm di truyền để xác định phương pháp điều trị tốt cho một người mắc bệnh ung thư. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa cho thấy rằng nó có thể điều trị hiệu quả tất cả các loại ung trị sử dụng tia bức xạ có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Ngoài ra, bác sĩ có thể khuyên bạn nên sử dụng bức xạ để thu nhỏ khối u trước khi phẫu thuật hoặc giảm các triệu chứng liên quan đến khối tế bào gốc có thể đặc biệt có lợi cho những người mắc bệnh ung thư liên quan đến máu, chẳng hạn như bệnh bạch cầu hoặc ung thư thuật thường là một phần của kế hoạch điều trị khi người bệnh có khối u ung thư. Ngoài ra, một bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ các hạch bạch huyết để giảm hoặc ngăn ngừa bệnh lây bác sĩ thường sẽ sử dụng nhiều hơn một loại điều trị để tối đa hóa hiệu quả. 8. Ung thư có thể phòng ngừa? Thông thường, không có phương pháp nào để ngăn ngừa tuyệt đối nguy cơ mắc ung thư. Nhưng các bác sĩ đã xác định một số cách để giảm nguy cơ ung thư chẳng hạn nhưBỏ thuốc lá. Hút thuốc dù chủ động hay thụ động đều có liên quan đến một số loại ung thư - không chỉ ung thư phổi. Không chỉ bạn mà những người thân xung quanh cần dừng hút thuốc sẽ làm giảm nguy cơ ung thư trong tương tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá nhiều. Tia cực tím có hại UV từ mặt trời có thể làm tăng nguy cơ ung thư da. Sử dụng quần áo bảo hộ hoặc bôi kem chống nắng nếu bạn phải ra ngoài. Tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh. Chọn chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và protein giúp tăng cường sức khỏe cho thể dục thường xuyên giúp giảm nguy cơ ung thư thấpDuy trì cân nặng khỏe mạnh. Nguyên nhân thừa cân hoặc béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Do vậy, để bạn đạt được và duy trì cân nặng khỏe mạnh nên thông qua sự kết hợp của chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường sàng lọc ung thư. Liên hệ với bác sĩ của bạn về các loại kiểm tra sàng lọc ung thư là tốt dựa trên các yếu tố nguy cơ ung thư trong cuộc sống hằng ngày..Tiêm chủng. Chích ngừa có thể giúp ngăn ngừa một số loại virus gây ung thư. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Các tác dụng phụ của xạ trị ung thư Ung thư đại tràng Những điều cần biết Ung thư vú Dấu hiệu, nguyên nhân, cách phòng tránh và điều trị
Mục lục Ung thư da là gì? Triệu chứng của ung thư da Ung thư biểu mô tế bào đáy Ung thư tế bào vảy U ác tính Nguyên nhân ung thư da Bạn có cần thường xuyên xét nghiệm ung thư không? Ung thư da có chết không? Ung thư da có chữa khỏi được không? Phẫu thuật Xạ trị Hóa trị Dùng thuốc bôi 5FU Biện pháp phòng tránh ung thư da 1. Ung thư da là gì? Ung thư da là tình trạng phát triển không kiểm soát được của các tế bào da bất thường. Bệnh xảy ra khi tổn thương gây thiệt hại cấu trúc cho phân tử AND tác động lên tế bào da, gây ra đột biến hoặc các khiếm khuyết về gen, làm cho tế bào da nhân lên nhanh chóng và hình thành các khối u ác tính. Ung thư da gồm có 3 loại là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư tế bào vảy và u ác tính. Hầu hết các loại ung thư da có thể phát hiện sớm Nguồn Internet 2. Triệu chứng của ung thư da Ung thư da phát triển ở phần da tiếp xúc ánh nắng, bao gồm da đầu, mặt, môi, tai, cổ, ngực, cánh tay, bàn tay và chân. Trong đó, ung thư da đầu và ung thư da mặt là trường hợp dễ gặp nhất. Ngoài ra, bệnh có thể xuất hiện trên khu vực hiếm thấy như lòng bàn tay, bên dưới móng tay hoặc móng chân và vùng sinh dục. Triệu chứng bệnh ung thư da gồm có Ung thư biểu mô tế bào đáy Thể u Đây là thể hay gặp nhất trong các thể của ung thư tế bào đáy. Vị trí chủ yếu ở vùng đầu, cổ và nửa trên thân mình. Dấu hiệu ung thư da giai đoạn đầu thường là u nhỏ, mật độ chắc, trên có giãn mạch, không ngứa, không đau, tiến triển chậm. Sau một thời gian, u tăng dần về kích thước, lan ra xung quanh, thâm nhiễm và lấn đến các tổ chức dưới da. Tổn thương có thể loét, dễ chảy máu, đóng vảy tiết đen, bờ nổi cao với các sẩn bóng. Thể nông Tổn thương dát, sẩn màu hồng hoặc đỏ nâu, có vảy da, bờ hơi nổi cao giống như sợi chỉ. Vị trí thường gặp là vùng thân và ít có xu hướng xâm lấn. Thể xơ Thường gặp ở vùng mũi hoặc trán, u bằng phẳng với da, đôi khi thành sẹo lõm, trên có các mạch máu giãn, giới hạn không rõ ràng với da lành. Ung thư tế bào vảy Tổn thương sùi hoặc mảng cứng nổi cao, chắc, màu hồng đến màu đỏ, loét dễ chảy máu, đóng vảy tiết nâu đen. Trường hợp không điều trị kịp thời, khối ung thư phát triển nhanh, xâm lấn xuống tổ chức xung quanh và di căn xa. Khối u có thể loét, nhiễm khuẩn, mùi hôi thối, di căn tới các hạch lân cận hoặc đến các cơ quan nội tạng như phổi, não. Ung thư tế bào vảy quanh miệng thường gặp ở môi dưới với biểu hiện sẩn, đỏ cứng. Ung thư tế bào vảy quanh móng dễ nhầm với bệnh hạt cơm, cần làm mô bệnh học để chẩn đoán xác định. U ác tính U ác tính có thể phát triển ở bất cứ nơi nào trên cơ thể hoặc có thể xuất hiện ở nốt ruồi. Dấu hiệu khối u ác tính bao gồm đốm nâu sẫm màu; nốt ruồi thay đổi về màu sắc, kích thước hoặc chảy máu; vết thương nhỏ bất thường và có màu đỏ, trắng, xanh; vết thương có màu tối trên lòng bàn tay, lòng bàn chân, ngón tay, ngón chân hoặc trên màng nhầy trong miệng, mũi, âm đạo hay hậu môn. 3. Nguyên nhân ung thư da Ung thư da xảy ra khi có đột biến trong ADN của các tế bào da. Những đột biến này gây ra sự phát triển không thể kiểm soát được của các tế bào và tạo thành tế bào ung thư. Phần lớn các thiệt hại của ADN trong tế bào da là kết quả từ bức xạ tia cực tím UV trong ánh nắng mặt trời và ánh sáng được sử dụng trong giường tắm nắng. Tuy nhiên, các yếu tố khác cũng có thể góp phần gây ra bệnh ung thư da, ví dụ như tiếp xúc với các chất độc hại hoặc có tình trạng bị suy yếu hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng đóng vai trò nhất định làm tăng nguy cơ ung thư da. Nếu bạn có người thân bị ung thư da thì nguy cơ mắc bệnh của bạn sẽ tăng lên cao hơn so với những người không có người thân bị ung thư da. 4. Bạn có cần thường xuyên xét nghiệm ung thư không? Xét nghiệm ung thư da là bước quan trọng giúp bạn phát hiện mình có mắc bệnh ung thư da hay không, từ đó đưa ra phương pháp điều trị kịp thời. Tuy nhiên, phần lớn các chuyên gia đều không khuyến khích việc thường xuyên làm xét nghiệm ung thư da. Bạn chỉ nên làm xét nghiệm khi phát hiện những nốt ruồi bất thường. Ngoài ra, nếu bạn có nhiều yếu tố nguy cơ mắc ung thư da, bạn cần phải thường xuyên làm xét nghiệm. Những yếu tố bao gồm Tóc vàng hoặc đỏ không phải do nhuộm, màu mắt sáng, da xuất hiện tàn nhang hay dễ bị cháy nắng. Có thành viên trong gia đình bị ung thư da. Từng có những nốt ruồi bất thường. Bạn đã từng bị cháy nắng, đặc biệt là những vết cháy bị rộp da. Bạn thường đi tắm nắng. Bạn có rất nhiều nốt ruồi trên người hoặc nốt ruồi có hình dáng kỳ lạ. Bạn đã từng thực hiện ghép nội tạng. Bạn cũng nên đi khám nếu đã từng bị ung thư tế bào đáy hoặc ung thư tế bào vảy. Bởi 2 loại ung thư da này có khả năng bị tái phát. Tắm nắng có nguy cơ bị ung thư da Nguồn Internet 5. Ung thư da có chết không? Tùy thuộc vào mức độ ác tính của loại ung thư gây ra trên cơ thể mà người ta xem xét tới mức độ tử vong do bệnh gây ra. Độ ác tính của ung thư da là nhỏ nhất, bệnh phát triển chậm, vì vậy tỷ lệ tử vong do ung thư da thấp. Tuy nhiên, không thể vì tỷ lệ tử vong của bệnh thấp mà xem nhẹ sự nguy hiểm của ung thư da, nếu người bệnh không kịp thời đến bệnh viện điều trị và điều trị không đúng cách thì vẫn có thể dẫn đến tử vong. Ngoài ra, ung thư da có thể di căn tới các bộ phận khác của cơ thể. Khi đó việc điều trị sẽ rất khó khăn, nguy cơ gây tử vong rất cao. Nhìn chung, ung thư da không chỉ gây ảnh hưởng tới thẩm mỹ, tâm lý của người bệnh, mà còn có khả năng dẫn tới tử vong. Do đó, bất cứ ai trong mỗi chúng ta cũng cần ý thức phòng tránh căn bệnh này. 6. Ung thư da có chữa khỏi được không? Mặc dù là bệnh ung thư nguy hiểm nhưng ung thư da cũng có thể chữa khỏi nếu được phát hiện và điều trị kịp thời. Nếu chữa trị ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể lên tới 100%. Ở giai đoạn muộn, tỷ lệ sống sau 5 năm còn khoảng 20 - 40%. Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị ung thư da. Căn cứ vào từng mức độ bệnh và giai đoạn bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp chữa trị phù hợp. Phẫu thuật Đây là phương pháp điều trị chính cho các trường hợp mắc ung thư da ở giai đoạn đầu. Xạ trị Phương pháp này thường được áp dụng đối với các trường hợp mắc ung thư da giai đoạn muộn. Xạ trị có thể được sử dụng trước phẫu thuật để thu nhỏ kích thước khối u, giúp cắt bỏ dễ dàng hoặc xạ trị được sử dụng sau phẫu thuật nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Hóa trị Phương pháp này là dùng thuốc hóa chất truyền vào cơ thể qua đường tĩnh mạch nhằm tiêu diệt hoàn toàn các tế bào ung thư. Phương pháp này có thể dùng khi bệnh đã di căn và không thể phẫu thuật được. Dùng thuốc bôi 5FU Thuốc bôi 5FU dạng kem chỉ dùng trong trường hợp ung thư biểu mô vảy. Nếu được điều trị đúng phương pháp và kịp thời sẽ giúp bạn kiểm soát và cải thiện sớm bệnh, loại bỏ hoàn toàn ung thư da. 7. Biện pháp phòng tránh ung thư da Bạn có thể ngăn ngừa bệnh ung thư da bằng những cách sau đây Tránh tiếp xúc trực tiếp với nắng mặt trời đặc biệt là nắng có cường độ cao, tia UV mạnh trong thời gian từ 10 - 16h hàng ngày. Sử dụng quần áo chống nắng, khẩu trang, mũ rộng vành, kính râm khi đi ngoài trời để bảo vệ cơ thể. Hạn chế tiếp xúc với hóa chất độc hại trong công việc và cuộc sống, không sử dụng mỹ phẩm trên da. Sử dụng các dụng cụ bảo hộ lao động khi tiếp xúc với hóa chất… Đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng trong chế độ ăn hàng ngày, uống nhiều nước và ăn nhiều rau củ quả. Thoa kem chống nắng và sau mỗi giờ hãy thoa lại kem ở mọi nơi trên cơ thể nếu bạn đi bơi hoặc tiếp xúc với ánh nắng. Không nên dùng giường tắm nắng nhân tạo hoặc các phương pháp điều trị bằng tia cực tím. Thăm khám da thường xuyên. Như vậy, ung thư da là một khá phổ biến, bất cứ ai cũng có thể mắc phải căn bệnh này. Vì vậy, việc phòng tránh và nhận biết sớm triệu chứng là việc vô cùng cần thiết.
Ung thư da rất dễ phát hiện, chỉ cần nhìn da mỗi ngày là biết được? Có thể sử dụng giường tắm nắng để tạo làn da ngăm khỏe mạnh mà không sợ bị ung thư da? Hãy cùng BlogAnChoi khám phá sự thật về những điều lầm tưởng cực sai này nhé!Nội dung chính1. Chỉ những người hay tắm nắng mới bị ung thư da?2. Những người có da sẫm màu sẽ không bị ung thư da?3. Phơi nắng lâu mới đủ để tạo ra vitamin D cho cơ thể?4. Vào những ngày có gió, mát mẻ hoặc nhiều mây thì không cần sợ ánh nắng và tia cực tím?5. Nếu phơi nắng làm da ngăm nhưng không bị cháy nắng thì cũng không cần chống nắng?6. Chỉ cần thoa kem chống nắng ngay trước khi đi ra ngoài trời?7. Cửa kính ô tô có thể bảo vệ làn da khỏi bị cháy nắng?8. Giường tắm nắng là phương pháp an toàn để có làn da ngăm mà không sợ cháy nắng?9. Nếu ung thư da xuất hiện thì cũng rất dễ nhận biết và điều trị?10. Chỉ cần sử dụng biện pháp chống nắng cho da mặt, các phần còn lại của cơ thể không quan trọng?11. Các sản phẩm “giả rám nắng” có thể bảo vệ da khỏi tổn thương?12. Các loại mỹ phẩm được dán nhãn SPF cũng đủ khả năng bảo vệ da khỏi tia UV?13. Tất cả các loại kem chống nắng đều có tác dụng như nhau?1. Chỉ những người hay tắm nắng mới bị ung thư da?Tắm nắng sai cách chắc chắn gây hại cho da, nhưng chúng ta cũng thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím có hại thông qua các hoạt động hằng ngày, chẳng hạn như khi đi dạo trong công viên hoặc chơi thể thao ngoài trời. Không chỉ có tắm nắng mới làm cho da tiếp xúc với tia cực tím Ảnh Internet.Những người làm việc ngoài trời có nguy cơ bị tổn thương da nhiều hơn. Tia cực tím có thể tấn công làn da ngay cả trong những ngày trời mát mẻ, và cơ thể chúng ta không cảm nhận được điều đó. Tất cả các trường hợp tiếp xúc quá nhiều với tia UV đều làm tăng khả năng xuất hiện ung thư là màu da ngăm sẽ được bảo vệ tốt hơn khỏi tia UV, nhưng vẫn có thể nhận đủ lượng bức xạ có hại để gây tổn thương vĩnh viễn cho DNA của tế bào da và làm tăng khả năng hình thành ung thư da. Tất cả mọi người bất kể màu da và loại da như thế nào đều nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa cần thiết khi đi ra Phơi nắng lâu mới đủ để tạo ra vitamin D cho cơ thể?Ngay cả với mức độ tia cực tím thấp thì chỉ cần một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày là đủ để cung cấp vitamin D. Có thể tận dụng ánh nắng thông qua các hoạt động đơn giản hằng ngày như đợi xe buýt hoặc ra ngoài ăn trưa. Các hoạt động ngoài trời giúp cơ thể nhận đủ lượng ánh nắng để tổng hợp vitamin D Ảnh Internet.Những người sống ở nơi có mức độ tia UV rất thấp có thể dành nhiều thời gian hơn ở ngoài trời, và những người có làn da rất sẫm màu cũng vậy. Tuy nhiên tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng sẽ làm tổn thương da và tăng khả năng mắc ung Vào những ngày có gió, mát mẻ hoặc nhiều mây thì không cần sợ ánh nắng và tia cực tím?Da của chúng ta không thể cảm nhận được bức xạ UV, trong khi nó có thể đạt mức độ khá cao vào những ngày hè mát mẻ hoặc có gió. Tia UV cũng có thể xuyên qua một số đám mây, do đó vào những ngày trời mát cũng có thể làm da bị tổn thương. Luôn phải cảnh giác với tia UV kể cả vào những ngày trời mát Ảnh Internet.Nhiều người lầm tưởng rằng nếu trời không quá nắng nóng thì không cần lo cho da, nhưng điều này không đúng. Thủ phạm gây cháy nắng là tia cực tím chứ không phải nhiệt độ, do đó điều quan trọng là phải biết được mức độ tia UV nhiều đến đâu. Ngày nay có nhiều ứng dụng trên điện thoại có thể đo được tia UV trong môi trường, chẳng hạn như app có thể tải app SunSmart cho Android tại đâyTải app SunSmart cho iOS tại đây5. Nếu phơi nắng làm da ngăm nhưng không bị cháy nắng thì cũng không cần chống nắng?Thực tế là phơi nắng không bao giờ an toàn tuyệt đối cho da. Khi da chuyển sang màu ngăm đen cũng có nghĩa là các tế bào đang phản ứng lại với tổn thương do bức xạ UV gây ra. Làn da rám nắng có thể đi kèm với nguy cơ ung thư da Ảnh Internet.DNA trong tế bào da có thể bị tổn thương ngay cả khi không có triệu chứng bong tróc hoặc đỏ da. Các tế bào da càng bị tổn thương nhiều thì nguy cơ hình thành ung thư càng tăng lên, vì vậy ngay cả những người có làn da rám nắng “khỏe mạnh” cũng nên sử dụng các biện pháp chống Chỉ cần thoa kem chống nắng ngay trước khi đi ra ngoài trời?Nếu bạn thoa kem chống nắng rồi đi ra ngoài ngay, thậm chí là đi ra rồi mới thoa kem, thì da có thể sẽ bị tia cực tím độc hại tấn công như thường. Vào những ngày trời quá nóng, kem chống nắng có thể bị chảy ra và không được da hấp thụ đầy đủ nếu thoa quá trễ. Tốt nhất bạn nên thoa kem chống nắng phổ rộng SPF 50+ khoảng 30 phút trước khi đi ra ngoài. Thoa kem chống nắng một lúc rồi mới đi ra ngoài Ảnh Internet.7. Cửa kính ô tô có thể bảo vệ làn da khỏi bị cháy nắng?Da vẫn có thể bị tổn thương khi được cửa kính ô tô che chắn, đặc biệt là loại cửa không có lớp phủ đặc biệt. Mặc dù kính có thể làm giảm lượng tia cực tím chiếu xuyên qua nhưng lượng tia còn lại vẫn là quá nhiều, do đó thay vì ỷ lại vào cửa kính thì bạn nên thoa kem chống nắng ngay cả khi ngồi trong xe để bảo vệ da mình. Nên dùng miếng dán chuyên dụng để chắn tia UV Ảnh Internet.8. Giường tắm nắng là phương pháp an toàn để có làn da ngăm mà không sợ cháy nắng? Giường tắm nắng là thiết bị tạo ra tia UV giống như ánh nắng mặt trời Ảnh Internet.Giường tắm nắng tạo ra lượng tia UV nhiều hơn đáng kể so với ánh sáng mặt trời, trên thực tế là hơn 3 lần. Nghiên cứu cho thấy những người sử dụng giường tắm nắng trước 35 tuổi có nguy cơ phát triển ung thư da melanoma tăng 35%. Mỗi lần sử dụng thiết bị này sẽ làm tổn thương da của bạn và có thể khiến da trở nên thô ráp, nhăn tắm nắng chắc chắn không phải là cách an toàn để mang lại làm da ngăm khỏe mạnh, và thực tế cũng không có cách nào được coi là an toàn Nếu ung thư da xuất hiện thì cũng rất dễ nhận biết và điều trị?Đây là một trong những lầm tưởng phổ biến nhất về ung thư da. Việc tự quan sát và kiểm tra làn da của mình thường xuyên là rất quan trọng và nên làm, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận thấy những dấu hiệu bất thường của da. Một số triệu chứng rất nhỏ và khó phát hiện, đó là chưa kể có những vùng da rất khó quan sát nếu tự làm một trị ung thư da có thể rất phức tạp và “mạnh tay” trong một số trường hợp, đặc biệt là nếu không được phát hiện sớm. Do đó đừng bao giờ xem nhẹ căn bệnh này, hãy thường xuyên kiểm tra và đến gặp bác sĩ có kinh nghiệm để xác định bất kỳ dấu hiệu đáng ngờ nào trên da càng sớm càng Chỉ cần sử dụng biện pháp chống nắng cho da mặt, các phần còn lại của cơ thể không quan trọng?Nhiều người rất chú ý đến da mặt và vùng cổ nhưng lại quên bảo vệ cho các phần còn lại của cơ thể. Mặc dù mặt và cổ thường là những vùng da tiếp xúc với ánh nắng nhiều nhất, nhưng các bộ phận khác cũng có thể bị cháy nắng và gây ra tổn thương da nghiêm trọng. Tất cả mọi vùng da đều có thể bị tổn thương và hình thành ung thư Ảnh Internet.Hãy nhớ rằng nếu da bị rám nắng thì đó là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang phản ứng với lượng tia UV quá mức, do đó sử dụng kem chống nắng phổ rộng cho tất cả các vùng da bị lộ ra ngoài là rất quan Các sản phẩm “giả rám nắng” có thể bảo vệ da khỏi tổn thương? Kem nhuộm da nâu có chống lại tia UV được không? Ảnh Internet.Các loại kem giả rám nắng làm cho da trở nên sẫm màu hơn, nhưng chúng không có tác dụng bảo vệ da khỏi tia UV. Một số sản phẩm có chứa chất chống nắng trong công thức, khi đó chúng sẽ có tác dụng như kem chống nắng bình thường và chỉ có khả năng bảo vệ hạn chế tùy theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bạn sẽ phải thoa lại liên tục hoặc sử dụng kem chống nắng bình thường để đảm có thể mua kem nhuộm da nâu tại đây12. Các loại mỹ phẩm được dán nhãn SPF cũng đủ khả năng bảo vệ da khỏi tia UV?Mỹ phẩm và kem dưỡng ẩm thường không chứa bất kỳ thành phần chống nắng nào, vì chúng không được sản xuất ra với vai trò là sản phẩm chống nắng. Do vậy bạn vẫn nên thoa kem chống nắng bình thường trước khi dùng mỹ những sản phẩm có SPF 30+ mới có khả năng bảo vệ da đạt chuẩn trong một khoảng thời gian nhất định. Tốt nhất là hãy đọc kỹ hướng dẫn để biết thời gian bảo vệ kéo dài bao lâu và nên thoa lại kem chống nắng thường xuyên để tránh da bị tổn Tất cả các loại kem chống nắng đều có tác dụng như nhau?Chỉ có kem chống nắng phổ rộng mới ngăn được cả tia UVA và UVB, và lý do cần loại kem như vậy là vì UVA làm da bị lão hóa còn UVB làm bỏng da. Tiếp xúc quá nhiều với những tia độc hại này có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tra hạn sử dụng của kem chống nắng cũng rất quan trọng, vì kem quá hạn có thể bị giảm tác đây là những điều lầm tưởng về ung thư da và sự thật chính xác mà bạn nên biết. Hãy chăm sóc làn da của mình đúng cách để luôn khỏe đẹp, tràn đầy sức sống nhé!Mời bạn xem thêm những bài viết liên quan của BlogAnChoiChế độ ăn MIND là gì và tại sao MIND rất tốt cho trí não?Ngủ không gối có lợi hay có hại? Có thể bỏ gối khi ngủ hay không?Hãy đón xem BlogAnChoi mỗi ngày để nhận được nhiều thông tin thú vị cho cuộc sống bạn nhé!
Ung thư phổi Ung thư gan Ung thư bàng quang Ung thư đại trực tràng Ung thư cổ tử cung Ung thư thận Bệnh bạch cầu Ung thư tuyến tiền liệt Ung thư tuyến tụy Ung thư tuyến giáp U não Triệu chứng Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư là gì? Các dấu hiệu ung thư phổ biến gồm Mệt mỏi Xuất hiện vùng u lên dưới da Thay đổi cân nặng ngoài ý muốn Vàng, sạm hoặc đỏ da Lở loét không lành hoặc thay đổi các nốt ruồi hiện có Những thay đổi trong thói quen về ruột hoặc bàng quang như đi cầu hay đi tiểu Ho hoặc khó thở dai dẳng Khó nuốt, khàn tiếng Khó tiêu hoặc khó chịu dai dẳng sau khi ăn Đau cơ hoặc đau khớp dai dẳng, không rõ nguyên nhân Sốt hoặc đổ mồ hôi ban đêm không rõ nguyên nhân Chảy máu hoặc bầm tím không rõ nguyên nhân. Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu ung thư nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau. Vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để được thăm khám, tìm ra nguyên nhân gây bệnh và lựa chọn được phương án điều trị thích hợp nhất. Nguyên nhân Nguyên nhân gây ra ung thư là gì? Đó có thể là do những thay đổi đột biến ADN trong các tế bào gây ra, bao gồm một số lượng lớn các gene riêng biệt. Mỗi gene chứa hệ thống điều khiển tế bào thực hiện chức năng nào đó, cũng như điều hòa sự phát triển và phân chia tế bào. Lỗi trong các hệ thống làm cho tế bào không còn chức năng bình thường và có thể biến một tế bào bình thường trở thành tế bào ung thư. Có nhiều lý do gây ra đột biến gene và thường chia thành hai nguyên nhân ung thư chính, bao gồm Yếu tố bên trong Bạn được thừa hưởng đột biến di truyền từ bố mẹ. Loại đột biến này chiếm một tỷ lệ nhỏ gây ra bệnh ung thư; Yếu tố bên ngoài Hầu hết các đột biến gene xảy ra do các yếu tố bên ngoài. Một số tác nhân có thể gây đột biến gene chẳng hạn như hút thuốc lá, chất phóng xạ, virus, hóa chất gây ung thư chất gây ung thư, béo phì, kích thích tố, viêm mạn tính và lười vận động. Kết quả là gene đột biến thúc đẩy tế bào khỏe mạnh tăng trưởng và phân chia nhanh chóng, không kiểm soát được và dẫn đến có thêm nhiều các tế bào mới đều mang đột biến tương tự. Các tế bào bình thường có cơ chế biết khi nào phải ngừng phát triển để có số lượng vừa phải trong cơ thể. Tuy nhiên, tế bào ung thư không còn cơ chế kiểm soát này các gene ức chế khối u. Đột biến ở gen ức chế khối u cho phép tế bào ung thư tiếp tục phát triển và tích lũy. Nghiêm trọng hơn, đột biến ở gene có chức năng sửa chữa ADN sẽ làm cho những sai sót ở bộ gene không được sửa chữa, khiến cho tế bào trở thành tế bào ung thư. Đây là những đột biến phổ biến nhất ở ung thư. Các nhà khoa học không biết chính xác cần tích lũy bao nhiêu đột biến để ung thư hình thành. Khả năng hình thành bệnh sẽ khác nhau giữa các loại ung thư. Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư là gì? Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư, chẳng hạn như Tuổi tác Ung thư có thể mất hàng thập kỷ để phát triển, đó là lý do tại sao hầu hết mọi người được chẩn đoán mắc bệnh khi đã 65 tuổi hoặc lớn hơn. Tuy nhiên, ung thư không phải là bệnh chỉ gặp ở người lớn tuổi, bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Thói quen xấu Hút thuốc lá, uống quá nhiều rượu bia, tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, bị béo phì và quan hệ tình dục không an toàn, có thể góp phần dẫn đến ung thư. Bệnh sử gia đình Mặc dù chỉ một phần nhỏ bệnh ung thư là do di truyền, bạn cũng nên làm một vài xét nghiệm về di truyền để phòng ngừa. Tuy nhiên, bạn cần nhớ rằng có đột biến gene di truyền không có nghĩa là mình sẽ bị bệnh ung thư. Các tình trạng sức khỏe khác Một số bệnh mạn tính như viêm loét đại tràng có thể làm tăng nguy cơ phát triển một số bệnh ung thư; Môi trường sống Hóa chất độc hại như amiăng và benzen trong nhà hoặc nơi làm việc có thể là một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Thậm chí nếu không hút thuốc, bạn có thể hít phải khói thuốc lá nếu đứng gần hoặc tiếp xúc với người hút thuốc lá. Chẩn đoán và điều trị Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế, vậy nên tốt nhất là bạn hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế giúp chẩn đoán bệnh ung thư là gì? Các bác sĩ khuyến cáo nên chẩn đoán ung thư càng sớm càng tốt để có thể điều trị tốt nhất, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của bệnh. Một số loại ung thư chẳng hạn như ung thư da, vú, miệng, tinh hoàn, tuyến tiền liệt và trực tràng có thể được phát hiện qua kiểm tra định kỳ hoặc tầm soát ung thư trước khi các triệu chứng trở nên nghiêm trọng. Hầu hết các trường hợp ung thư được phát hiện và chẩn đoán khi một khối u hoặc các triệu chứng khác phát triển. Trong một vài trường hợp, ung thư được chẩn đoán tình cờ khi đang điều trị các tình trạng sức khỏe khác. Bác sĩ thường bắt đầu chẩn đoán ung thư thông qua kiểm tra sức khỏe và tìm hiểu bệnh sử. Các xét nghiệm máu, nước tiểu và phân có thể phát hiện những bất thường chỉ ra ung thư. Khi nghi ngờ có khối u, các xét nghiệm hình ảnh như chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính CT, chụp cộng hưởng từ MRI, siêu âm và kiểm tra nội soi giúp bác sĩ xác định vị trí và kích thước của ung thư. Để xác nhận chẩn đoán, sinh thiết là xét nghiệm ung thư quan trọng giúp bác sĩ đưa ra quyết định chính xác. Ngoài ra, còn một số các xét nghiệm ung thư khác nhằm cung cấp thông tin cụ thể về bệnh. Điều quan trọng nhất mà các bác sĩ cần biết là liệu ung thư có di căn hay không. Nếu chẩn đoán ban đầu là không nhưng các triệu chứng vẫn tồn tại, bạn có thể cần xét nghiệm thêm. Tầm soát ung thư có cần thiết không? Tầm soát ung thư là gì? Đó là các xét nghiệm kiểm tra tổng quát cơ thể để phát hiện ung thư trước khi có các triệu chứng. Tầm soát ung thư thường xuyên có thể phát hiện sớm ung thư vú, cổ tử cung và đại trực tràng đại tràng, do đó việc điều trị có thể đạt hiệu quả nhất. Tầm soát ung thư phổi được khuyến cáo cho một số người có nguy cơ cao. Một số xét nghiệm sàng lọc ung thư phổ biến như Ung thư vú chụp nhũ ảnh giúp phát hiện sớm ung thư. Ung thư cổ tử cung xét nghiệm Pap có thể tìm thấy các tế bào bất thường trong cổ tử cung có thể biến thành ung thư. Xét nghiệm HPV tìm virus papillomavirus ở người có thể gây ra những thay đổi tế bào này. Xét nghiệm Pap cũng có thể phát hiện ung thư cổ tử cung sớm, do đó cơ hội được chữa khỏi là rất cao. Ung thư đại trực tràng đại tràng Ung thư đại trực tràng hầu như luôn phát triển từ polyp tiền ung thư tăng trưởng bất thường ở đại tràng hoặc trực tràng. Xét nghiệm sàng lọc có thể tìm thấy polyp tiền ung thư, vì vậy bác sĩ có thể loại bỏ chúng trước khi biến thành ung thư. Xét nghiệm sàng lọc cũng có thể phát hiện ung thư đại trực tràng sớm, do đó điều trị sẽ hiệu quả hơn. Những phương pháp dùng để điều trị ung thư là gì? Việc điều trị ung thư phụ thuộc vào loại và giai đoạn bệnh, tác dụng phụ của phương pháp điều trị, yêu cầu và sức khỏe tổng thể bệnh nhân. Các phương pháp chữa ung thư bao gồm hóa trị, liệu pháp miễn dịch và vắc xin, xạ trị. Phẫu thuật giúp loại bỏ càng nhiều tế bào ung thư càng tốt Hóa trị giúp tiêu diệt các tế bào ung thư phát triển nhanh chóng bằng thuốc Xạ trị sử dụng các chùm bức xạ mạnh, điều trị gần cận xạ trị hoặc bên ngoài xạ trị bên ngoài để tiêu diệt các tế bào ung thư. Cấy ghép tế bào gốc tủy xương giúp sửa chữa tủy xương bị bệnh với các tế bào gốc khỏe mạnh. Những ca cấy ghép này cho phép các bác sĩ sử dụng liều hóa trị cao hơn để điều trị ung thư. Liệu pháp miễn dịch Liệu pháp sinh học sử dụng các kháng thể để giúp hệ thống miễn dịch nhận ra ung thư để có thể chống lại tế bào ung thư. Liệu pháp hormone ngăn chặn các tế bào ung thư phát triển. Điều trị bằng thuốc sử dụng thuốc để can thiệp vào một số phân tử giúp tế bào ung thư phát triển và tồn tại. Biến chứng Biến chứng của bệnh ung thư là gì? Ung thư và việc điều trị ung thư có thể gây ra một số biến chứng, bao gồm Đau đớn Đau có thể do ung thư hoặc điều trị ung thư, mặc dù không phải tất cả ung thư đều gây đau. Thuốc và các phương pháp khác có thể điều trị hiệu quả cơn đau liên quan đến ung thư. Mệt mỏi Mệt mỏi ở những người bị ung thư có nhiều nguyên nhân, nhưng nó thường có thể được kiểm soát. Mệt mỏi liên quan đến hóa trị hoặc xạ trị là vấn đề phổ biến, nhưng nó thường chỉ kéo dài tạm thời. Khó thở Ung thư hoặc điều trị ung thư có thể gây khó thở.. Buồn nôn Một số bệnh ung thư và phương pháp điều trị có thể gây buồn nôn. Bác sĩ đôi khi có thể dự đoán nếu điều trị có khả năng gây buồn nôn và sẽ kê thuốc hoặc phương pháp điều trị khác để ngăn ngừa hoặc giảm buồn nôn. Tiêu chảy hoặc táo bón Ung thư và điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến ruột, gây ra tiêu chảy hoặc táo bón. Sụt cân Ung thư và điều trị ung thư có thể gây giảm cân. Tế bào ung thư sẽ lấy thức ăn từ các tế bào bình thường và làm mất chất dinh dưỡng. Thay đổi hóa học trong cơ thể Ung thư có thể làm đảo lộn sự cân bằng hóa học bình thường trong cơ thể và làm tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Các dấu hiệu và triệu chứng của sự mất cân bằng hóa học có thể gồm khát nước quá nhiều, đi tiểu thường xuyên, táo bón và nhầm lẫn. Vấn đề về não và hệ thần kinh Tế bào ung thư có thể đè lên các dây thần kinh gần đó và gây đau và mất chức năng của một bộ phận trong cơ thể. Ung thư liên quan đến não có thể gây ra đau đầu và các dấu hiệu và triệu chứng giống như đột quỵ, chẳng hạn như yếu ở một bên cơ thể. Phản ứng hệ miễn dịch bất thường với ung thư là gì? Trong một số trường hợp, hệ miễn dịch của cơ thể có thể phản ứng với sự hiện diện của ung thư bằng cách tấn công các tế bào khỏe mạnh. Những phản ứng rất hiếm gặp này có thể dẫn đến một loạt các dấu hiệu và triệu chứng, chẳng hạn như đi lại khó khăn và co giật. Ung thư di căn là gì? Khi ung thư tiến triển, nó có thể lan rộng di căn đến các bộ phận khác của cơ thể. Ung thư tái phát là gì? Những người sống sót sau ung thư có nguy cơ tái phát ung thư. Một số bệnh ung thư có nhiều khả năng tái phát hơn những bệnh khác. Hỏi bác sĩ về những gì bạn có thể làm để giảm nguy cơ tái phát ung thư. Bác sĩ có thể đưa ra một kế hoạch theo dõi cho bạn sau khi điều trị. Kế hoạch này có thể bao gồm kiểm tra định kỳ trong những tháng và năm sau khi điều trị. Phòng ngừa Những biện pháp nào giúp bạn phòng ngừa ung thư? Bạn sẽ có thể phòng ngừa ung thư nếu áp dụng các biện pháp sau Không hút thuốc vì thuốc lá có liên quan đến nhiều loại ung thư khác nhau bao gồm ung thư phổi, miệng, họng, thanh quản, tụy, bàng quang, cổ tử cung và thận; Có chế độ ăn uống lành mạnh; Ăn nhiều trái cây và rau quả; Hạn chế các loại thịt; Duy trì cân nặng phù hợp và hoạt động thể chất để giảm nguy cơ mắc nhiều loại ung thư khác nhau, bao gồm ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi, ruột và thận; Tránh tia cực tím từ mặt trời; Khám bệnh thường xuyên. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.
Mục lục Ung thư hạch là gì? Những dấu hiệu ung thư hạch Thiếu máu Suy giảm chức năng miễn dịch Sưng hạch bạch huyết Nguyên nhân ung thư hạch là gì? Ung thư hạch có chữa được không ? 1. Ung thư hạch là gì? Ung thư hạch hay còn gọi là u lympho ác tính hoặc ung thư hạch bạch huyết, là loại bệnh lý thường gặp trong nhóm bệnh huyết học ác tính ở người lớn. Bệnh bao gồm u lympho ác tính không Hodgkin và u lympho ác tính Hodgkin. Trong đó, u lympho ác tính không Hodgkin thường gặp hơn và nhiều gấp 5 lần trường hợp còn lại. Ung thư hạch bạch huyết có tỷ lệ mắc bệnh gia tăng Nguồn Internet Theo Tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu GLOBOCAN 2018, trên thế giới có gần người mắc mới chiếm gần 6% và gần người tử vong chiếm gần 2,6%. Tại Việt Nam, năm 2018 có hơn trường hợp mới mắc chiếm gần 2,3% và hơn trường hợp tử vong, đứng hàng thứ 14 trong các loại ung thư. Mai Trọng Khoa – Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai cho biết, ung thư hạch bạch huyết gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ mắc bệnh cao ở các nhóm tuổi từ 35 – 40 tuổi và 50 – 55 tuổi, tuổi trung bình là 50 – 60 tuổi. 2. Những dấu hiệu ung thư hạch Trước khi phát hiện cơ thể có khối u, người bệnh sẽ có các triệu chứng như sưng hạch bạch huyết, khó thở, hơi thở ngắn và sưng phù đường hô hấp. Một số bệnh nhân thậm chí có thể xuất hiện các triệu chứng toàn thân. Dưới đây là một số dấu hiệu ung thư hạch bạch huyết thường gặp Thiếu máu Theo nghiên cứu thống kê lâm sàng, có khoảng 10 – 20% bệnh nhân bị ung thư hạch ác tính có biểu hiện thiếu máu tại thời điểm thăm khám, hoặc thậm chí xuất hiện vài tháng trước khi các hạch bạch huyết sưng phồng lên. Đối với những bệnh nhân đã rơi vào giai đoạn bệnh tiến triển nặng hơn thì tình trạng thiếu máu đã thể hiện một cách rõ ràng. Suy giảm chức năng miễn dịch Những người bị ung thư hạch thường bị suy giảm chức năng miễn dịch, bệnh càng tiến triển nặng thì khả năng miễn dịch của cơ thể càng giảm sút. Bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng nhiễm trùng trong hệ thống thần kinh trung ương, viêm màng não hoặc u nang não có thể xảy ra. Sưng hạch bạch huyết Bệnh càng phát triển thì hạch càng sưng to Nguồn Internet Các hạch bạch huyết sẽ dần phát triển, từ giai đoạn có kích thước bằng hạt đậu nành nhỏ rồi lớn hơn như kích thước của quả táo tàu. Độ cứng của hạch bạch huyết này thường có mức độ trung bình, rất cứng và đồng nhất. Những hạch này thường không bám dính vào da, đến giai đoạn giữa và giai đoạn phát triển, chúng có thể tách rời hoàn toàn với da và có thể di động được dưới vùng da. Ung thư hạch bạch huyết giai đoạn cuối thì hạch sẽ phát triển nhiều, kết hợp lại với nhau thành 1 khối to. Thực tế, có những bệnh nhân có khối u với đường kính lên đến 20cm trở lên. Ngoài các triệu chứng trên, một số bệnh nhân còn gặp các triệu chứng như giảm cân đột ngột, đổ mồ hôi vào ban đêm, ăn không ngon,… 3. Nguyên nhân ung thư hạch là gì? Cho đến nay, các chuyên gia vẫn chưa xác định nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư hạch bạch huyết. Tuy nhiên, bạn có thể tầm soát nguy cơ mắc bệnh từ các yếu tố sau Người bị thừa cân, béo phì. Người có hệ miễn dịch suy yếu do cấy ghép nội tạng, bẩm sinh hoặc nhiễm virus. Người mắc một số bệnh như viêm khớp dạng thấp, Lupus ban đỏ, Celiac,… Có người thân trong gia đình mắc bệnh ung thư hạch gen di truyền. Người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất như benzen, các chất diệt côn trùng,… 4. Ung thư hạch có chữa được không ? Mai Trọng Khoa – Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai, điều trị bệnh ung thư hạch tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và loại mô bệnh học, vị trí tổn thương, thể trạng người bệnh,… Phương pháp điều trị kết hợp đa phương thức, biện pháp, chủ yếu là điều trị toàn thân như hóa trị kết hợp điều trị ghép tế bào gốc, điều trị tại vùng như xạ trị, phẫu thuật. Ung thư hạch phát hiện càng sớm thì điều trị dễ dàng hơn Nguồn Internet Các phương pháp mới như điều trị miễn dịch, miễn dịch phóng xạ,…mang lại hiệu quả cao, đặc biệt trong trường hợp bệnh tồn tại dai dẳng hoặc tái phát. Điều trị miễn dịch giúp tăng cường khả năng phát hiện và nhận diện tế bào u nhằm tiêu diệt chúng. Lời khuyên Bệnh ung thư hạch phát hiện càng muộn thì cơ hội chữa khỏi càng thấp, chính vì vậy, bạn cần chú ý quan sát đến các biểu hiện của cơ thể. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ bệnh ung thư hạch thì nên đến bệnh viện để thăm khám và kiểm tra ngay. Bởi ung thư hạch có thể điều trị dễ dàng nếu phát hiện sớm ở giai đoạn đầu và quá trình điều trị cũng sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Bạn đang xem bài viết Mô Bệnh Học Của Ung Thư Dạ Dày được cập nhật mới nhất trên website Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. MÔ BỆNH HỌC CỦA UNG THƯ DẠ DÀY Mô bệnh học Theo mô bệnh học thì ung thư dạ dày được chia ra làm nhiều loại khác nhau. Bao gồm các loại sau đây Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa trung bình và kém ở mô của dạ dày hay là adenocarcinoma là một loại u biểu mô thuộc thể ác tính, các khối u này thì có bắt nguồn từ các tế bào biểu mô tuyến ở niêm mạc của dạ dày. Trường hợp các bệnh nhân bị ung thư dạ dày ở dạng này chiếm tới 90% các trường hợp bệnh nhân bị ung thư. Về mô bệnh học thì hiện nay phát hiện được hai loại ung thư biểu mô tuyến dạ dày chính theo phân loại của Lauren là dạng ruột và dạng phân tán của bệnh. Bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến thường sẽ có sự xâm lấn nhanh chóng thành biểu mô của niêm mạc dạ dày và đến các lớp khác, khối u xâm nhập từ lớp biểu mô đến lớp cơ của niêm mạc dạ dày muscularis mucosae, rồi đến lớp dưới niêm mạc và sau đó đến lớp cơ trơn của thành ống tiêu hóa. Các tế bào ung thư của biểu mô tuyến dạng ruột có các cấu trúc hình ống bất thường, được phân bố thành nhiều lớp khác nhau, có nhiều các ống tuyến. giảm các cấu trúc đệm hay còn được gọi là stromatrong thành của dạ dày. Thường thì bệnh nhân bị bệnh ung thư biểu mô tuyến biệt hóa trung bình và kém ở mô của dạ dày cũng sẽ có dấu hiệu của chuyển sản ruột ở các niêm mạc vùng xung quanh của vùng bị tổn thương. Tùy theo cấu trúc của tuyến, sự đa hình thái của tuyến và bài tiết dịch của các tế bào ung thư biểu mô tuyến có thể có ba cấp độ biệt hóa khác nhau. Ba cấp độ đó bao gồm tốt, trung bình và biệt hóa kém. Còn trong trường hợp các bệnh nhân bị mắc ung thư biểu mô tuyến ở dạng phân tán là trường hợp mà dạ dày có hình dạng như cái chai hay cái lọ bằng da, vùng ung thư thì xơ cứng, trong có chứa rất nhiều các chất dịch nhầy và các dịch keo thì các tế bào ung thư thì không liên kết với nhau và chúng tiết chất dịch đổ thẳng vào trong các khe ở ngoại bào tạo ra những khoảng lớn bên trong có chứa dịch nhầy và các chất keo trên ảnh chụp của tiêu bản mô học thì đó là những khoảng trống, vì các chất dịch và chất keo này thì không bắt màu bất kì thuốc nhuộm nào. Chúng thường sẽ không biệt hóa một cách rõ ràng. Trường hợp các chất nhầy và chất keo này nằm trong các tế bào ung thư thì sẽ dẫn tới tác hại là chúng đẩy nhân của các tế bào ung thư ra ngoài rìa của tế bào nhân nằm sát với màng của tế bào chất, hậu quả là tạo nên các tế bào nhẫn đóng dấu. Ung thư các tế bào dạng nhẫn đóng dấu ở dạ dày hay còn được gọi với tên tiếng Anh là Gastric signet ring cell carcinoma. Trường hợp này chiếm số lượng ít, chỉ chiếm khoảng 5% các trường hợp bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư dạ dày. Ngoài ra còn có u carcinoid và u các cấu trúc đệm Ung thư mô tuyến ở dạ dày và chuyển sản ruột. copy ghi nguồn link bài viết MÔ BỆNH HỌC CỦA UNG THƯ DẠ DÀY Mãn dục là nguồn gốc ảnh hưởng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của các quý ông và hạnh phúc gia đình. Hơn nữa, khi khả năng sinh lý suy giảm đột ngột, có nhiều người còn không thừa nhận mình đã bị yếu, không chịu tìm hiểu và … Sử dụng sản phẩm Formula for men có nguồn gốc từ thảo dược để bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lý và hỗ trợ cải thiện các chứng bệnh “khó nói” của quý ông hiện đang là xu hướng mới được nhiều người ưa chuộng. Vậy trong viên uống … Nếu như nói mãn kinh tiền mãn kinh là điều tất yếu xảy ra ở nữ giới bởi đây là quy luật của quá trình lão hóa, thì với cơ thể nam giới cũng tương tự và được gọi là quá trình mãn dục nam. Tuy nhiên, rất ít người … Bài viết mới Bệnh Học Ngoại Khoa Ung Thư Dạ Dày Ungthư dạ dày là một trong những ung thư ống tiêu hóa thường gặp, trong thực tế tiên lượng vẫn không thay đổi nhiều từ nhiều năm nay. Thời gian sống đến 5 năm củaung thư dạ dày khoảng 15%và thời gian sống 5 năm sau phẫu thuật triệt căn khoảng 30%.Kết quả nàylà do chẩn đoánmuộn mặc dù có nội soi chẩn đoán và do ít tiến bộ trong điều trị ngoại khoa. Ung thư dạ dày phân bố không đồng đều ở mọi vùng trên thế giới. Chiếm tỷ lệ cao ở Nhật Bản và Nam Mỹ. Tỷ lệ thấp ở Bắc Mỹ và úc. Ở Pháp, ung thư dạ dày đứng hàng thứ tư sau ung thư đạitràng 14%, ung thư vú 12%, ung thư phổi 11%. Ungthư dạ dày hiếm gặp < 50 tuổi, tần suất này tăng lên theo tuổi. Tại HàNội, theo thống kê thìtỷ lệ ung thư dạ dày cùng ung thư phổi chiếm 30% các loại ung thư. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ung thư dạ dày chiếm hàng thứ batrong các loại ung thư ở nam giới và đứng hàng thứ tư trong cácloại ung thư ở nữgiới. Giải phẫu bệnh Có 3 loại theo Borrmann và Kajitani Khu trú Dạng loét hoặc loét sùi. Thể trung gian. Vị trí Gặp nhiều ở vùng hang, môn vị 60% Kích thước của khối u cũng có giá trị tốt cho việc tiên lượng. U <2cm Thời gian sống đến 5 năm khoảng 80%. Xâm lấn các chuỗi hạch xa là một yếu tố xấu cho tiên lượng của bệnh. Về tế bào học Phân loại của Lauren1965 Loại biệt hóa tốt ung thư biểu mô tuyến thể ruột- Adenocarcinoma týp intestinal và loại không biệt hóa týp diffuse. Khoảng 50% ung thư dạ dày là loại biệt hoá tốt, 30% loại không biệt hoá và 15% không xác định được. Tiên lượng tốt đối với ung thư loại biệt hoá tốt. Những bệnh có nguy cơ cao Loét dạ dày, polypdạ dày, thiếu máu Biermer. Bệnh Ménetrier, tiền sử cắt 2/3 dạ dày hơn 15 năm. Viêm dạ dày xơ teo, mạn tính. Phân chia các nhóm hạch dạ dày Phân chia làm 3 loại Hautefeuille,1982. N0=Không có sựxâm lấn hạch. HạchN + 0=Xâm lấn hạch quanh khối u. Phân loại của các tác giả Nhật Bản Chia 16 nhóm hạch N1 nhóm hạch gần, N2 nhóm hạch xa, N3 di căn xa. Thương tổn thay đổi tùy theo vị trí của ung thư dạ dày. Triệu chứng Chán ăn kèm sút cân là dấu hiệu hay gặp nhất của ung thư dạ dày,gặp trong 95% các trường hợp được chẩn đoán ung thư dạ dày. Hội chứng hẹp môn vị. Nôn ra máu đại thể gặp < 5% các trường hợp, mặc dù thiếu máu và có máu ẩn trong phân rấthay gặp. Thiếu máu dạng nhược sắc. Trướng bụng là dấu hiệu rấthiếm gặp nhưng có thể sờ thấy khối u trong 50%các trường hợp. Có thể có gan lớn, dấu hiệu nàygợi ý di căn gan. Di căn phúc mạc có thể gây bụng bángnhiều, hoặc di căn buồng trứng u Krukenberg hoặc di căn túi cùng Douglas. Các biểu hiện muộn này có thể gây đau ở tiểukhung và táobón. Có thể sờ thấy hạch ở hố thượng đòn trái, đây là những dấu hiệu lâm sàng kinh điển chứng tỏ ung thư dạ dày đang tiến triển. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng cho đến khi u xâm lấn vào toàn bộ thành dạ dày và các cơ quan kế cận hoặc di căn rộng. Cận lâm sàng Nội soi Nộisoi cho phép xác định chẩn đoán về mặt đại thể thể loét, thể sùi hay thể thâm nhiễm, vị trí, hình ảnh tổn thương. Nội soi còn giúp sinh thiết tổn thương để xác định tính chấtmô bệnh học. Hạn chế của nội soi Khi tổn thương ở đáyvị, tổn thương ung thư nông dạng viêm xước niêm mạc hoặc ung thư ở nhiều vị trí. Trong trường hợp ung thư dạng loét cần phải sinhthiết nhiều vị trí, tối thiểu 15 vị trí ở bờ ổ loét. Trong trường hợp ung thư thâmnhiễm hoặc thể teo đét hoặc sinh thiết quá nông thì kết quả có thể âm tính. Nội soi còn giúp sàng lọc ung thư dạ dày trong cộngđồng. Thường tiến hành nội soi ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, trên 40 tuổi. Chụp thực quản – dạ dày – tá tràng cản quang TOGD Chụp cắtlớp vi tính CT scan Siêu âm qua nội soi Kỹ thuật này cung cấp thông tin chính xác về độ sâu của sự xâm lấn qua thành dạ dày. Tuy nhiên kỹthuật này đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền và người thực hiện có chuyên môn cao. Soi ổ bụng ngàycàngđược sửdụng nhiều hơn và được xemnhư là công cụ giúp phân độ ung thư đồng thời xác định sự hiện diện của di căn nhỏ trong ổ phúc mạc hoặc ở gan mà không thể phát hiện được trên CT scan. Các chất chỉ điểm ung thư Cho đến nay, có nhiều chất chỉ điểm hay còn được gọi là chất đánh dấu ung thư khác nhau được sử dụng trong chẩn đoán, theo dõi và tiên lượng các u ác tính ở bụng và ở ống tiêu hoá. Đối với ung thư dạ dày, có một số chất được sử dụng như CEA hay CA19- 9, tuy nhiên, giá trị của chúng trong chẩn đoán còn rất thấp. Vì vậy, các chất đánh dấu ung thư này được sử dụng chủ yếu trong theo dõitái phát tại chỗ hay di căn xa sau phẫu thuật ung thư dạ dày. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán chủ yếu dựa vào cận lâm sàng,trong đó quan trọng nhất là nội soi dạ dày bằng ống soi mềm. Chụp dạ dày cản quang chỉ có tác dụng hỗ trợ. Chẩn đoán giai đoạn Phân chia giai đoạn theo TNM T Khối u Tumor Tis U giới hạn ở niêm mạc, không đi qua màng đáy. T1 U giới hạn ở lớp niêm mạc hay dưới niêm mạc. T2 U xâm lấn vào lớp cơ niêm và có thể lan rộng nhưng khôngvượt quá lớp thanh mạc. T3 U xuyên qua lớp thanh mạc nhưng không xâm lấn vào cơ quan kế cận. T4 U xâm lấn vào các cơ quan kế cận. N Hạch Nodes N0 Không có xâm lấn hạch bạch huyếtvùng. N1Xâm lấn hạch bạch huyết quanh dạ dày trong vòng 3cm quanh khối u nguyên phát và chạy dọc theo bờ cong nhỏ hoặc bờ cong lớn. N2Xâm lấnhạch bạch huyếtvùng trên 3cm so với khối u nguyên phát, kể cả những hạch nằm dọc theo động mạch vị trái, động mạch lách, động mạch thân tạng và động mạch gan chung. N3Xâm lấn các hạch bạch huyết khác trong ổ bụng như hạch cạnh động mạch chủ, hạch rốn gan tá tràng, hạch sau tuỵ và các hạch mạc treo. M Di căn M0 Không có di căn xa. M1 Có di căn xa. U xâm lấn trực tiếp vào các cấu trúc kế cận. Giaiđoạn 4 Di căn xa. Can thiệp ngoại khoa là chủ yếu. Tỷ lệ điều trị triệt căn khoảng 50%. Điều trị ung thư dạ dày cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên với nhà giải phẫu bệnh. Cho dù phân loại nào đi nữa thì mục đích điều trị ung thư dạ dày là điều trị triệt để cắt từ 2-5 cm trên khối u tùy theo kích thước khối u, lấy tế bào làm sinh thiết tức thời trong mổ, cắt bỏ mạc nốilớn. Cắt dạ dày bán phần hay toàn bộ Cắt dạ dày bán phần hoặc cắt 3/4 được áp dụng cho những ung thư dạ dày ở vùng hang vị hay 1/3 phần xa của dạ dày 60% trường hợp. Cắt dạ dày toàn bộ theo yêu cầu được áp dụng cho những ung thư dạ dày ở 1/3 giữa hoặc 1/3 trên hoặc những ung thư lớn xâm lấn toàn bộ dạ dày, sau đó tái lập lưu thông tiêu hóa bằng miệng nối Y. Cắtdạ dày toàn bộ theo nguyên tắc cho những ung thư vùng hang vị dạng xâm lấn hoặc lan tỏa, ung thư dạ dày nhiều chỗ hoặc ung thư tái phát ở mỏm cắt dạ dày còn lại. Nạo lấy hạch bị xâm lấn Đây là một kỹ thuật bắt buộc, có giá trị đánh giá tiên lượng của bệnh. Kết quả Tử vongphẫu thuật từ 20% theo các phẫu thuật viên Nhật Bản và10%theo các phẫuthuật viên phương Tây. Kết quả phụ thuộc vào cách phẫu thuật, vị trí, tính chất xâm lấn của ung thư. Các phương pháp điều trị khác Hóa trị liệu, áp dụng cho những bệnh nhân không có chỉ định mổ hoặc mổ mà không cắt dạ dày được. Hiện nay người ta sử dụng đa hóa trị liệu. Phác đồ 5FU +Adriamycin +Mytomicin, hoặcFAMe5Fu + Adriamycin + Methyl CCNV đôi lúc cũng không cải thiệnđược tiên lượng. 5FU tiêm tĩnh mạch 600mg/m2 cơ thể/ngàyvào cácngày1-8-29-36. Adriamycin tiêm tĩnh mạch 30mg/m2/ngày 1-29ngày. Mytomicin tiêm tĩnh mạch 10mg/m2/ngày 1. Chu kỳ 56 ngày. Hóa trị liệu hỗ trợ sau phẫu thuật tỏ ra cũng cần thiết, tuy nhiên vấn đề cải thiện tiên lượng cũng chưa rõràng. Có thể áp dụng khi ung thư tái phát, ung thư dạ dày di căn phổi, hạch thượng đòn. Ung thư dạ dày là gì? Ung thư dạ dày tiếng Anh là Stomach Cancer, là bệnh lý xuất hiện tế bào ung thư khởi phát tại dạ dày Cần phân biệt với ung thư bắt nguồn từ những cơ quan khác, sau đó di căn đến dạ dày. Ung thư dạ dày có thể xuất hiện tại những vị trí khác nhau của dạ dày và tùy thuộc vào vị trí của ung thư sẽ có những phương pháp điều trị thích hợp khác nhau. Ung thư dạ dày có đau không? Ung thư dạ dày là căn bệnh rất ít triệu chứng. Tùy vào từng giai đoạn, người bệnh có thể cảm nhận được các cơn đau khác nhau Bệnh nhân ung thư ít khi cảm thấy đau, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của bệnh Ung thư dạ dày giai đoạn đầu. Khi bệnh chuyển biến đến giai đoạn muộn giai đoạn 3, 4, một số bệnh nhân có thể có cảm giác đau ở vùng thượng vị, xuất hiện hiện tượng trướng bụng. Tuy nhiên, đây là các biểu hiện rất hiếm gặp. Trường hợp khối u đã xâm lấn các cơ quan lân cận, có di căn, bệnh nhân có thể đau do bị chèn ép hoặc đau do khối u di căn gây ra. Ngoài việc phải đối mặt với các cơn đau do khối u gây ra, người bệnh còn phải đối mặt với các cơn đau và rủi ro gây ra do điều trị Đau do phẫu thuật cắt bỏ dạ dày. Bên cạnh đó, hóa trị, xạ trị nếu được chỉ định còn gây ra nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe, gây cảm giác mệt mỏi và áp lực về mặt chi phí điều trị. Để giúp bệnh nhân vượt qua các cơn đau, bác sĩ sẽ cân nhắc lựa chọn các phương pháp giảm đau tùy thuộc vào thể trạng của bệnh nhân. Các phương pháp giảm đau thường được sử dụng như sử dụng thuốc giảm đau, gây tê, xạ trị, liệu pháp thay thế. Bệnh cạnh đó, để giảm nhanh triệu chứng đau đớn, nâng cao hiệu quả điều trị và kiểm soát ung thư dạ dày, người bệnh cần Tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ về sử dụng thuốc, điều trị ngoại khoa, hóa xạ trị Xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý Chú ý tới tập luyện nâng cao thể trạng theo chỉ định Luôn giữ vững tâm lý lạc quan, vui vẻ, có niềm tin chữa khỏi bệnh. Ung thư dạ dày ở độ tuổi nào? Có thể thấy được tỉ lệ mắc ung thư dạ dày có mối quan hệ mật thiết đối với tuổi tác. Ung thư dạ dày có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở nhóm người lớn tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày theo tuổi tăng lên đều đặn, trong khoảng từ 45 – 49 tuổi, tăng cao đột ngột từ khoảng từ 65 – 69 tuổi và tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 85 – 89 cho cả nam và nữ. Theo nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, có ít hơn 5% trường hợp mắc ung thư dạ dày là ở những người dưới 40 tuổi, trong số 5% đó có 81,1% thuộc nhóm tuổi từ 30 – 39 tuổi và 18,9% là ở những người từ 20 – 29 tuổi. Từ những con số thống kê này có thể thấy được ung thư dạ dày thường xuất hiện ở những người trên 40 tuổi. Vậy trẻ em có bị ung thư dạ dày không? Nên hạn chế các yếu tố nguy cơ gây ra ung thư dạ dày ở trẻ em Cho đến nay một số bệnh viện u bướu trong và ngoài nước đã tiếp nhận một số trường hợp trẻ em bị ung thư dạ dày với tỷ lệ rất nhỏ trong độ tuổi từ 4- 15 tuổi. Tuy nhiên, điều này là rất nguy hiểm do thể trang của các em còn yếu, hệ miễn dịch chưa phát triển đầy đủ làm bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Tại sao lại xuất hiện hiện tượng Ung thư dạ dày ở trẻ em? Với các trẻ đã bị nhiễm vi khuẩn Hp và có các yếu tố nguy cơ của bệnh như di truyền, nhóm máu, chế độ ăn uống, môi trường sống,…. thì về lâu về dài, các yếu tố nguy cơ này rất dễ tiến triển thành ung thư dạ dày. Do vậy, các bậc phụ huynh nên đưa con nhỏ đi khám sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị sớm các yếu tố nguy cơ có thể gây ung thư dạ dày ở trẻ em. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày tại Việt Nam và trên thế giới Trên toàn thế giới, ung thư dạ dày được coi là bệnh lý ác tính thường gặp đứng thứ 2. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thay đổi giữa các quốc gia khác nhau. Những năm gần đây ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Chilê và Ireland tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ung thư dạ dày đã có xu hướng giảm đáng kể. Tại Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày đã giảm, ở nam từ 28/ dân xuống còn 5/ và ở nữ từ 27/ xuống còn 2, 3/ Tại Nhật Bản, tỷ lệ ung thư dạ dày là 69/ Tại Việt Nam tỉ lệ người mắc bệnh dạ dày rất cao. Trên thế giới, số bệnh nhân mắc bệnh dạ dày chiếm từ 5 đến 10% toàn dân số thế giới, tuy nhiên ở nước ta con số này đã lên đến 7%. Một con số đáng nói khác là có đến 70% dân số nước ta mắc và có nguy cơ mắc các bệnh dạ dày do vi khuẩn HP Helicobacter Pylori. Theo Globocan Cơ quan ghi nhận ung thư toàn cầu năm 2012, Việt Nam xếp thứ 18 trên 20 nước có tỉ lệ mắc ung thư dạ dày cao nhất thế giới. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở nam giới là 23,7/ và ở nữ giới là 10,2/ Tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày ở nam giới là 21,9/ và ở nữ giới là 9,1/ 2. Phân loại Ung thư dạ dày Có nhiều cách phân loại Ung thư dạ dày khác nhau dựa trên nhiều tiêu chí vị trí giải phẫu bệnh, mức độ tổn thương, giai đoạn bệnh…Người ta thường phân loại Ung thư dạ dày như sau Ung thư bắt đầu trong các tế bào tuyến adenocarcinoma hay còn được gọi là ung thư biểu mô dạ dày. Các tế bào tuyến bên trong dạ dày có nhiệm vụ tiết ra một lớp chất nhầy để bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi sự tác động các dịch acid tiêu hóa. Ung thư bắt đầu trong tế bào hệ thống miễn dịch lymphoma. Thành của dạ dày có chứa một số lượng nhỏ các tế bào của hệ miễn dịch. Tại các tế bào hệ thống miễn dịch này có thể phát triển ung thư. Ung thư này còn được gọi là ung thư hạch, rất hiếm gặp. U lympho dạ dày có thể nguyên phát hoặc thứ phát, gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là sau 50. Ung thư bắt đầu trong các tế bào sản xuất nội tiết tố ung thư carcinoid. Các tế bào sản xuất Hormone có thể phát triển ung thư carcinoid. Ung thư Carcinoid là rất hiếm, chỉ khoảng 0,3%. Ung thư bắt đầu trong các mô hệ thống thần kinh GIST Tại các tế bào hệ thống thần kinh trong dạ dày có thể xuất hiện các khối u mô đệm. GIST là một hình thức rất hiếm của bệnh ung thư. Ung thư bắt nguồn từ cơ trơn chiếm 1%- 3% ác tính bắt nguồn từ cơ. Tổn thương ở thân dạ dày, gây loét và chảy máu. Nó hiếm khi xâm nhập vào các tạng lân cận và không di căn hạch nhưng có thể lan đến gan và phổi. Theo vị trí giải phẫu bệnh, ung thư dạ dày bao gồm các loại Ung thư dạ dày bờ cong nhỏ để hiểu rõ về Ung thư dạ dày bờ cong nhỏ, mời các bạn xem bài viết sau đây Ung thư dạ dày bờ cong nhỏ Nguyên nhân, Chẩn đoán, Nguyên tắc điều trị Ung thư dạ dày tế bào nhẫn đây là loại ung thư hay gặp ở những người trẻ tuổi, thường dưới 50 tuổi với tỷ lệ 60%, bệnh thường có tiên lượng xấu và phát hiện ở giai đoạn tiến triển của bệnh. Theo mức độ tổn thương, Ung thư dạ dày có thể chia thành 2 loại Ung thư dạ dày sớm Early Gastric Cancer loại ung thư có độ tổn thương nhẹ và mới chỉ khu trú ở lớp niêm mạc hoặc hạ niêm mạc. Nếu có phương pháp điều trị thích hợp thì có tiên lượng rất tốt. Tỷ lệ sống thêm 5 năm sau điều trị rất cao từ 50 -100% Ung thư dạ dày tiến triển Advanced Gastric Cancer có tổn thương sâu xuống lớp cơ của dạ dày và đa số có di căn vào hạch lympho. Tại nước ta, ung thư dạ dày chủ yếu phát hiện ở giai đoạn ung thư dạ dày tiến triển Phân loại theo giải phẫu bệnh của Ung thư dạ dày Ngoài ra, còn có thể có các loại ung thư dạ dày khác như Việc xác định chính xác loại tế bào trong ung thư dạ dày sẽ giúp ích trong việc xác định lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ngày nay, đa phần các bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư dạ dày thường được đề cập đến ung thư tế bào biểu mô tuyến Adenocarinoma vì đây là loại thường gặp và chiếm tỉ lệ cao nhất 90%. Còn các loại ung thư khác của dạ dày là rất hiếm gặp. Ngăn chặn sự hình thành mạch máu mới, hạn chế di căn của khối u đến những bộ phận khác trên cơ thể ngoài ra còn giúp cô lập các tế bào ung thư. Tăng cường hệ miễn dịch, nâng cao sức đề kháng, giảm sự xâm nhập vi khuẩn có hại và các tế bào ung thư gan Khiến các tế bào ung thư phải tự chết theo chương trình. Sản phẩm King Fucoidan & Agaricus hộp màu xanh loại 120 viên Fucoidan là hoạt chất chiết xuất từ tảo nâu, rong nâu. Fucoidan nổi danh là hoạt chất chống ung thư cực mạnh với những tác dụng quan trọng như Giảm thiểu chi phí chữa bệnh Giúp giảm tần suất và thời gian điều trị ở bệnh viện, giảm trực tiếp các chi phí thăm khám, giường bệnh… Giúp giảm lượng thuốc phải mua ngoài Giúp hạn chế nguy cơ sử dụng các thủ thuật, liệu pháp điều trị dài ngày và tốn kém. Giảm thời gian chăm sóc người bệnh cho người nhà King Fucoidan & Agaricus là thực phẩm bảo vệ sức khỏe chứa hoạt chất fucoidan Nhật đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép lưu hành, được bào chế từ fucoidan 100% tảo mozuku và bột nghiền nấm Agaricus giàu vitamin, và beta-glucan. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh Giảm đau đớn Giảm tác dụng phụ Ngủ ngon hơn, ăn uống ngon miệng hơn Kiểm soát, Kéo dài thời gian sống cho người bệnh Sử dụng các sản phẩm King Fucoidan hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày cùng các biện pháp điều trị theo chỉ định chính; kết hợp với chế độ dinh dưỡng khoa học, tâm lý tích cực, luyện tập phù hợp là giải pháp tốt nhất giúp Khi cơ thể người bệnh nhanh chóng thích ứng được các biện pháp điều trị, rút ngắn thời gian nằm viện điều trị, người bệnh có thể theo dõi điều trị tại nhà, từ đó giảm thiểu thời gian chăm sóc cho người nhà bệnh nhân. Dược sĩ Trần Thu Trang Khi sử dụng Fucoidan việc điều trị ung thư có thể rút ngắn thời gian và hiệu quả. Đồng thời, ngăn ngừa tái phát sau điều trị sẽ mang lại cuộc sống bền lâu và chất lượng cho người bệnh. Hy vọng những kiến thức xoay quanh căn bệnh ung thư dạ dày đã giúp bạn có góc nhìn tổng quan nhất về căn bệnh. Lưu ý sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. Không nên sử dụng Fucoidan đơn độc mà bỏ qua các phương pháp hóa – xạ trị hay phẫu thuật bác sĩ đã chỉ định. Giải Phẫu Bệnh Học Bệnh Lý Dạ Dày Giải phẫu bệnh học Bệnh lý dạ dày Dạ dày là 1 cơ quan hình túi có dung tích từ 1200 – 1500 ml, là nơi nhào trộn thức ăn với dịch vị. Về mặt giải phẫu học, dạ dày được chia thành 5 phần tâm vị, đáy vị, thân vị, hang vị và môn vị; tại môn vị lớp cơ trơn dày lên tạo thành cơ thắt môn vị. Thành dạ dày gồm 4 lớp niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ trơn và thanh mạc. Toàn bộ niêm mạc được phủ bởi biểu mô trụ đơn tiết nhày, trong mô đệm có chứa các tuyến dạ dày khác nhau tùy vùng, gồm 3 loại tuyến tâm vị và tuyến hang – môn vị tiết nhày; tuyến vị phân bố trong vùng đáy vị và thân vị, cấu tạo gồm tế bào chính và tế bào viền, sản xuất ra pepsin và HCl, là thành phần chính của dịch vị. Toàn bộ chất nhày được tiết ra sẽ tạo thành hàng rào bảo vệ niêm mạc chống lại tác động tiêu hoá của dịch vị. Về mặt bệnh lý học, có thể gặp các tổn thương viêm, loét, u và một số dị tật bẩm sinh ít gặp như hẹp môn vị phì đại, thoát vị hoành, VIÊM DẠ DÀY Là tình trạng viêm niêm mạc dạ dày. Viêm dạ dày có thể cấp tính hoặc mạn tính. Viêm dạ dày cấp tính acute gastritis Là tình trạng viêm cấp tính niêm mạc dạ dày; diễn tiến thường nhẹ nhàng nhưng đôi khi có loét trợt niêm mạc hoặc những ổ loét thực sự còn gọi là loét do stress; đưa đến xuất huyết tiêu hoá ói máu, đi cầu phân đen. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nhiều tác nhân khác nhau có thể gây ra viêm dạ dày cấp tính các thuốc giảm đau không steroid nhất là aspirin, rượu, các dung dịch acid hoặc kiềm, các thuốc hoá trị ung thư, tia xạ, tình trạng stress do chấn thương nặng, bỏng, nhiễm khuẩn nhiễm độc hoặc sốc. Các tác nhân này trực tiếp làm tổn thương các tế bào biểu mô, hoặc gián tiếp thông qua sự kích thích tăng tiết acid, giảm sản xuất chất đệm bicarbonat HCO3-, phá vỡ lớp chất nhầy bảo vệ, giảm lượng máu nuôi niêm mạc. Hình thái tổn thương Thay đổi khác nhau tùy mức độ viêm. Trường hợp viêm nhẹ niêm mạc dạ dày sung huyết đỏ; dưới KHVQH, niêm mạc có mô đệm bị phù nề sung huyết, biểu mô bên trên vẫn còn nguyên vẹn nhưng có sự thấm nhập của nhiều BCĐNTT vào giữa các tế bào biểu mô. Trường hợp viêm nặng hơn niêm mạc bị loét trợt erosion và xuất huyết tạo thành những đốm mầu nâu trên nền sung huyết đỏ; trong trường hợp bị loét do stress, các ổ loét hình tròn, nhỏ đường kính < 1cm, bờ và đáy ổ loét vẫn mềm mại, phân bố rải rác ở mọi vùng dạ dày. Dưới KHVQH, loét trợt là những vùng niêm mạc bị mất chất nhưng chưa sâu quá lớp cơ niêm, mô đệm niêm mạc phù nề, thấm nhập nhiều BCĐNTT, có thể tụ thành dịch xuất mủ – tơ huyết phủ lên trên bề mặt niêm mạc. Đối với ổ loét do stress ở bệnh nhân bị bỏng hay chấn thương nặng, tổn thương mất chất cùng với hiện tượng xuất huyết và thấm nhập tế bào viêm có thể ăn sâu xuống đến lớp dưới niêm mạc. Hình 14 Hình 14 Viêm dạ dày cấp tính do stress với những ổ loét trợt xuất huyết rải rác A, niêm mạc phù nề, thấm nhập BCĐNTT, có dịch xuất mủ – tơ huyết trên bề mặt biểu mô B Liên hệ lâm sàng trường hợp viêm dạ dày cấp tính nhẹ, bệnh nhân có thể chỉ thấy hơi khó chịu hoặc đau vùng thượng vị, có thể có cảm giác buồn nôn hoặc ói. Trường hợp viêm nặng có loét trợt hoặc loét, bệnh nhân có thể ói ra máu và đi cầu phân đen. Khi tác nhân gây viêm đã bị loại bỏ, các vết loét trợt và ổ loét sẽ lành hoàn toàn, không để lại di chứng. Viêm dạ dày mãn tính VDDMT chronic gastritis Định nghĩa là tình trạng viêm mãn tính niêm mạc dạ dày, dẫn đến sự teo đét niêm mạc và chuyển sản biểu mô, nhưng thường không gây loét trợt như trong viêm cấp tính. Nguyên nhân Hai tác nhân chính gây ra VDDMT Tình trạng nhiễm khuẩn mãn tính Helicobacter pylori là 1 loại vi khuẩn gram âm hình que hơi cong, dài khoảng 3,5 m. Vi khuẩn có các roi giúp nó di chuyển trong lớp chất nhầy của dạ dày, gắn lên bề mặt các tế bào biểu mô và sản xuất ra các độc tố làm tổn thương niêm mạc dạ dày. Có thể tìm thấy trong vùng hang vị của 90% số bệnh nhân VDDMT. Phản ứng tự miễn chống lại tế bào viền của tuyến vị là nguyên nhân gây bệnh của 10% số bệnh nhân VDDMT. Ở những người này, sự hiện diện của các tự kháng thể chống tế bào viền sẽ phá hủy các tuyến vị, làm teo đét niêm mạc dạ dày, làm giảm sự sản xuất acid và yếu tố nội tại cần cho sự hấp thụ vitamin B12 tại hồi tràng; kết quả bệnh nhân sẽ bị thiếu máu ác tính pernicious anemia do thiếu vitamin B12. Tổn thương tế bào biểu mô tuyến dạ dày, dù do hoặc do kháng thể tự miễn, sẽ thu hút các limphô bào và tương bào thấm nhập vào lớp niêm mạc, các tế bào viêm này được hoạt hoá sản xuất ra các chất trung gian hoá học có thể làm tổn thương thêm niêm mạc, tạo ra các biến đổi hình thái của VDDMT. Hình thái tổn thương Đại thể vị trí tổn thương khác nhau tùy theo nguyên nhân gây bệnh VDDMT do phản ứng tự miễn có tổn thương chủ yếu ở niêm mạc vùng thân – đáy vị nơi chứa các tuyến vị; tổn thương trong VDDMT do thì lại được thấy chủ yếu ở vùng hang vị. Trong giai đoạn đầu của viêm mãn tính, niêm mạc dạ dày có mầu đỏ, dầy lên, làm tăng kích thước các nếp gấp niêm mạc; khi đã chuyển sang giai đoạn teo đét, lớp niêm mạc mỏng đi và xẹp xuống. Hình VDDMT do biểu mô dạ dày có vi khuẩn trên bề mặt, có vùng chuyển sản ruột mũi tên, A1; mô đệm thấm nhập limphô bào, có nang limphô A2. VDDMT do phản ứng tự miễn, niêm mạc bị teo đét dần do giảm số lượng tuyến B1 và có hiện tượng chuyển sản ruột mũi tên B2. Vi thể VDDMT do hoặc do phản ứng tự miễn đều có những đặc điểm vi thể sau Hình 15 Thấm nhập limphô bào và tương bào trong mô đệm của niêm mạc; các limphô bào có thể tập hợp lại thành các nang limphô sơ cấp hoặc thứ cấp trong lớp niêm mạc. Tăng sinh tái tạo các tuyến bị tổn thương, biểu hiện qua sự gia tăng hình ảnh phân bào trong các tuyến niêm mạc, sự hiện diện của các tế bào tuyến tăng sinh có nhân to, tăng sắc nhiều khi khó phân biệt với các tế bào nghịch sản. Chuyển sản ruột biểu mô dạ dày vùng hang vị, thân – đáy vị được thay thế bởi các tế bào trụ có vi nhung mao và tế bào hình đài tiết nhầy. Teo đét niêm mạc do các tuyến dạ dày bị phá huỷ, giảm số lượng. Nghịch sản có thể xuất hiện ở những trường hợp VDDMT kéo dài lâu năm; các tế bào biểu mô nghịch sản có hình dạng và kích thước thay đổi, nhân to tăng sắc, định hướng sắp xếp bị rối loạn. Mức độ nghịch sản thay đổi từ nhẹ đến nặng, có nơi biến thành carcinôm tại chỗ. 10% các trường hợp nghịch sản vừa và nặng sẽ phát triển thành ung thư dạ dày sau 1 khoảng thời gian từ 1-6 năm. Chính vì vậy, cần theo dõi để phát hiện kịp thời các tổn thương nghịch sản ở các trường hợp VDDMT. Liên hệ lâm sàng biểu hiện lâm sàng của VDDMT khá nghèo nàn như buồn nôn, ói mửa, khó chịu hoặc đau nhẹ vùng thượng vị. Đối với VDDMT do do vẫn còn một số lượng tế bào viền chưa bị phá huỷ nên những bệnh nhân này không bị vô toan dạ dày hoặc thiếu máu ác tính; ngược lại với VDDMT do phản ứng tự miễn, hầu hết tế bào viền bị phá hủy nên bệnh nhân sẽ bị vô toan dạ dày và khoảng 10% trong số đó sẽ bị thiếu máu ác tính. Điều đáng quan tâm hơn cả là khả năng chuyển thành carcinôm dạ dày từ các tổn thương nghịch sản xuất hiện trong VDDMT. LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG MÃN TÍNH LDDTTMT peptic ulcer Loét do tác động của acid và pepsin trong dịch vị peptic ulcer là những ổ loét mãn tính, đơn độc; có thể xuất hiện ở bất kỳ đoạn nào của ống tiêu hoá nhưng đại đa số đều tập trung vào đoạn đầu tá tràng hoặc dạ dày. Chính vì vậy, cụm từ loét dạ dày-tá tràng mãn tính LDDTTMT được xem đồng nghĩa với loét do tác động của acid và pepsin trong dịch vị. Dịch tễ học LDDTTMT là 1 bệnh lý mãn tính, dai dẳng, tái đi tái lại. Bệnh thường gặp ở người lớn; xuất độ mắc bệnh ở giới nam cao hơn giới nữ từ 2-3 lần. Phụ nữ thường bị LDDTTMT vào giai đoạn mãn kinh hoặc sau mãn kinh. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh LDDTTTMT là hậu quả của tình trạng mất cân bằng giữa các cơ chế bảo vệ niêm mạc dạ dày – tá tràng và tác động tiêu hoá của acid và pepsin trong dịch vị. Các cơ chế bảo vệ niêm mạc dạ dày-tá tràng gồm Sự tiết nhầy của tế bào biểu mô bề mặt, tạo ra lớp chất nhầy phủ trên bề mặt niêm mạc. Các tế bào biểu mô bề mặt chế tiết bicarbonat HCO3- vào trong lớp chất nhầy, tạo ra vi môi trường pH trung tính cho bề mặt tế bào. Các tế bào biểu mô có khả năng tăng sinh tái tạo nhanh chóng, thay thế các tế bào bị tổn thương, đảm bảo sự toàn vẹn lớp biểu mô bề mặt. Hệ thống tưới máu niêm mạc phong phú, cung cấp oxy, bicarbonat và các chất dinh dưỡng cần thiết cho biểu mô, đồng thời chuyển đi các ion H+ bị khuyếch tán ngược từ lòng ống vào trong niêm mạc, duy trì tốt hoạt động chuyển hóa tế bào và tái tạo. Mô đệm niêm mạc sản xuất prostaglandin, kích thích sự tiết nhầy và bicarbonate, duy trì việc tưới máu niêm mạc. Có nhiều tác nhân có thể gây ra sự mất cân bằng giữa cơ chế bảo vệ niêm mạc và tác động của acid-pepsin, dẫn đến LDDTTTMT như thuốc lá, rượu, thuốc kháng viêm không steroid, corticoid, u sản xuất gastrin gastrinoma. là tác nhân quan trọng nhất, gây ra tình trạng mất cân bằng trên. Nó được tìm thấy ở hầu hết các bệnh nhân bị loét tá tràng và 70% bệnh nhân loét dạ dày. Cơ chế tác động của rất phức tạp sản xuất protease làm hủy glycoprotein trong chất nhầy dạ dày. sản xuất phospholipases làm tổn thương tế bào biểu mô bề mặt, giải phóng các chất trung gian hoá học thu hút và hoạt hoá các tế bào viêm, làm niêm mạc càng bị tổn thương hơn nữa, khiến sự sản xuất chất nhầy càng giảm. Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu do sản xuất thúc đẩy sự hình thành huyết khối làm tắc nghẽn các mạch máu nuôi niêm mạc. kích thích sự tiết gastrin, làm tăng sản xuất acid. Chính vì vậy, khi dùng kháng sinh tiêu diệt ổ loét sẽ mau lành hơn và ít bị tái phát. Hình thái tổn thương Đại thể trong bệnh LDDTTMT, ổ loét thường ở tá tràng hơn dạ dày, với tỉ lệ 41. Vị trí thường thấy nhất của ổ loét tá tràng là ở đoạn ngắn vài cm ngay sau cơ thắt môn vị, ở thành trước nhiều hơn thành sau. Vị trí thường thấy nhất của ổ loét dạ dày là ở bờ cong nhỏ, gần chỗ khuyết góc incisura angularis, ít gặp ở thành trước, thành sau và bờ cong lớn. Đa số bệnh nhân chỉ có 1 ổ loét; khoảng 10 – 20% số bệnh nhân có đồng thời ổ loét ở dạ dày và ở tá tràng. Hình Ổ loét ở dạ dày A và tá tràng B, có vách dựng đứng, bờ không gồ cao, đáy sạch. Vi thể hình ảnh vi thể có thể thay đổi tuỳ theo ổ loét đang ở trong thời điểm viêm hoại tử, viêm mãn tính hoặc đang lành sẹo. Tại ổ loét đang bị hoại tử tiến triển, có thể phân biệt rõ 4 vùng từ nông đến sâu Hình 17 Hình Bốn vùng của ổ loét Bờ và đáy ổ loét được phủ một lớp mỏng những mảnh vụn hoại tử dạng tơ huyết fibrinoid. Bên dưới lớp này là vùng thấm nhập tế bào viêm không đặc hiệu mà chủ yếu là BCĐNTT. Sâu hơn là mô hạt viêm với các tế bào đơn nhân. Dưới cùng là mô sẹo có nhiều sợi collagen, trải rộng đến bờ ổ loét. Mạch máu trong vùng này có thành dày là do hiện tượng viêm bao quanh và thường bị huyết tắc huyết khối. Ổ loét được làm lành nhờ vào sự tái tạo lớp niêm mạc từ bờ ổ loét, phủ lên trên mô sẹo giàu sợi collagen. Lớp niêm mạc xung quanh ổ loét thường có hình ảnh viêm dạ dày mãn tính 85-100% trường hợp loét tá tràng và 65% loét dạ dày. Điều này giúp phân biệt với loét trợt và loét do stress trong viêm dạ dày cấp, lớp niêm mạc xung quanh vẫn còn tương đối bình thường. Liên hệ lâm sàng Các triệu chứng chính của LDDTTMT là ợ chua, đau vùng thượng vị, đau tăng lên sau bữa ăn và về đêm. Các biến chứng chính của LDDTTMT gồm có xuất huyết gây ói máu và đi cầu phân đen; thủng gây viêm phúc mạc; hoá sẹo gây hẹp môn vị. LDDTTMT là một bệnh mãn tính, dai dẳng, tái đi tái lại; tuy không rút ngắn đời sống nhưng lại làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nếu không được điều trị thì trung bình phải mất 15 năm, ổ loét mới có thể lành được. Loét tá tràng không bao giờ hoá ác; một vài trường hợp loét dạ dày hoá ác có lẽ xuất phát từ biểu mô nghịch sản trong viêm dạ dày mãn tính đi kèm với loét dạ dày hơn là từ chính bản thân ổ loét. U DẠ DÀY U dạ dày thường xuất phát từ biểu mô. U thường được chia thành 2 nhóm là polýp và carcinôm. Trong số các u ác tính ở dạ dày, thường gặp nhất là carcinôm chiếm tỉ lệ 90-95%; ngoài ra, còn có limphôm chiếm 4%, carcinoid 3%, u mô đệm dạ dày – ruột Gastro-Intestinal Stromal Tumor – GIST 2%. Polýp dạ dày Polyp dạ dày ít gặp, thường được phát hiện một cách tình cờ trong khi làm nội soi dạ dày khoảng 2-3% các trường hợp nội soi để tìm nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hoá. Phân biệt 2 loại Polyp tăng sản hyperplastic polyp chiếm hơn 90% các polýp dạ dày. Đây là một tổn thương giả u, thường xuất hiện trên nền viêm dạ dày mãn tính, rất hiếm khi hoá ác. Polýp tăng sản thường nhỏ, đường kính không quá 2cm, bề mặt láng, có hoặc không có cuống. Cấu tạo vi thể gồm biểu mô bề mặt tăng sản lành tính; bên trong là mô đệm phù nề, thấm nhập các tế bào viêm và có chứa các tuyến giãn rộng. U tuyến dạng polýp adenomatous polyp còn gọi là polýp tuyến, chiếm 5 -10% các polýp dạ dày. U thường ở hang vị, đơn độc, đường kính 3-4cm, có hoặc không có cuống. Đây là u thực, có thể chứa biểu mô nghịch sản, vì vậy có tiềm năng ác tính. Khi khảo sát kỹ, 8-59% u tuyến dạng polýp có chứa một ổ carcinôm. Hình 18 Hình 18 Đại thể và vi thể của một u tuyến dạng polýp ở dạ dày. Carcinôm dạ dày Dịch tễ học carcinôm dạ dày là loại ung thư phổ biến trên toàn thế giới và được xếp vào nhóm 10 loại ung thư thường gặp nhất. Xuất độ ung thư dạ dày thay đổi tùy theo vùng địa dư; Nhật, Trung quốc, Nga, Colombia là các quốc gia có xuất độ carcinôm dạ dày rất cao, gấp 4-6 lần xuất độ ở Anh, Mỹ, Pháp. Số liệu của Việt nam 2004-2008 cho thấy ung thư dạ dày đứng hàng thứ 4 và 8 đối với giới nam và nữ của thành phố Hồ chí Minh; hàng thứ 2 và 3 đối với giới nam và nữ ở thành phố Hà nội. Phân loại theo hình thái mô học, phân biệt 2 loại carcinôm dạ dày kiểu ruột và kiểu lan tỏa. Carcinôm kiểu ruột xảy ra ở bệnh nhân có tuổi trung bình là 55 tuổi; nam bị nhiều hơn nữ tỉ lệ 21; loại carcinôm này có xu hướng biệt hoá tốt và được cho là xuất phát từ biểu mô nghịch sản trong VDDMT. Carcinôm kiểu lan tỏa xảy ra ở bệnh nhân trẻ hơn, trung bình 48 tuổi, và không có sự khác biệt về giới tỉ lệ 11. loại này có xu hướng biệt hoá kém, không có mối liên hệ với VDDMT và được cho là xuất phát từ các đột biến mới de novo của các tế bào tiết nhầy trong tuyến dạ dày. Bệnh sinh các yếu tố môi trường được cho là giữ vai trò chính làm phát sinh ung thư dạ dày, yếu tố cơ địa di truyền thuận lợi chỉ đóng vai trò thứ yếu. Đối với carcinôm tuyến kiểu ruột đã xác định được các yếu tố nguy cơ làm phát sinh ung thư như chế độ ăn quá nhiều muối hoặc gia vị, các thực phẩm chế biến có sử dụng nitrat làm chất bảo quản; viêm dạ dày mãn tính do Đối với carcinôm kiểu lan tỏa chưa xác định được các yếu tố nguy cơ. Ung thư xuất hiện không thông qua con đường nghịch sản; bệnh nhân thường không có nhiễm Hp và không có viêm dạ dày mãn tính. Ngoài ra, người ta cũng ghi nhận có sự tăng nhẹ nguy cơ ung thư loại này ở người nhóm máu A. Hình thái tổn thương Đại thể vị trí tổn thương của carcinôm dạ dày được phân bố như sau 50-60% ở hang vị và môn vị, 25% ở tâm vị, và phần còn lại ở thân vị và đáy vị. Bờ cong nhỏ bị tổn thương trong 40% các trường hợp, nhiều hơn so với bờ cong lớn, chỉ có 12%. Như vậy, vị trí thường gặp nhất của tổn thương là ở bờ cong nhỏ của vùng hang – môn vị. Dựa vào mức độ xâm nhập, phân biệt ra 2 loại carcinôm dạ dày Hình 19 Carcinôm dạ dày sớm tổn thương còn khu trú ở lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, bất kể tình trạng đã có hoặc chưa di căn vào các hạch xung quanh dạ dày. Carcinôm dạ dày tiến triển là trường hợp ung thư đã xâm nhập vào lớp cơ hoặc sâu hơn nữa. Carcinôm dạ dày tiến triển có 3 dạng đại thể của dạng chồi sùi nhô vào lòng dạ dày, chiếm tỉ lệ 40 -50%; dạng thâm nhiễm, 26% và dạng loét, 25%. Hình 19 Các dạng đại thể của carcinôm tuyến dạ dày Dạng chồi sùi nhô vào lòng dạ dày, tạo thành một khối sần sùi như nấm hoặc giống polýp polypoid. Dạng thâm nhiễm nhìn không thấy rõ khối u nhưng có thể thấy sự xoá mất các nếp gấp niêm mạc bình thường tại vùng này. Khi ung thư đã tiến triển, toàn bộ thành dạ dày có thể bị xâm nhập, trở nên dày và cứng, giống như 1 cái chai bằng da linitis plastica. Vi thể như đã trình bày ở trên, carcinôm dạ dày có 2 hình thái mô học chính là kiểu ruột và kiểu lan tỏa. Kiểu ruột gồm những tế bào ác tính, sắp xếp thành cấu trúc tuyến giống như trong carcinôm tuyến đại tràng Hình 20B. Kiểu lan tỏa gồm những tế bào giống tế bào tiết nhầy trong tuyến dạ dày; các tế bào này có hình nhẫn, không sắp xếp thành tuyến, xâm nhập vào trong tất cả các lớp của thành dạ dày dưới dạng những tế bào nằm rải rác hoặc tập trung thành từng đám nhỏ Hình 20C. Hình 20 Carcinôm dạ dày tiến triển dạng loét, bờ gồ caoA, Kiểu ruột B, Kiểu lan toả, tế bào nhẫn C Cho dù là kiểu mô học nào thì các carcinôm dạ dày cuối cùng sẽ vượt qua lớp thanh mạc, xâm nhập vào các cơ quan lân cận như tá tràng, tụy tạng; di căn đến các hạch quanh dạ dày và di căn theo đường máu đến gan và phổi. Carcinôm dạ dày có thể cho di căn sớm đến hạch thượng đòn hạch Virchow. Ở bệnh nhân nữ, carcinôm dạ dày có thể di căn vào phúc mạc, đến cả hai buồng trứng tạo nên u Krukenberg. Liên hệ lâm sàng Carcinôm giai đoạn sớm thường không có triệu chứng và có thể chỉ được khám phá qua khám nội soi tầm soát định kỳ ở những vùng có xuất độ ung thư dạ dày cao được áp dụng ở Nhật. Carcinôm dạ dày tiến triển có thể chỉ biểu hiện bằng vài triệu chứng mơ hồ như cảm giác đầy bụng khó tiêu, hoặc rõ rệt hơn như đau thượng vị, chán ăn, sụt cân, xuất huyết tiêu hoá, triệu chứng hẹp môn vị do khối u chèn ép. Nếu bệnh được phát hiện trong giai đoạn carcinôm dạ dày sớm, có khả năng chữa khỏi bằng phẫu thuật, tỉ lệ sống 5 năm đạt đến 95-100%; khi bệnh đã tiến triển, tỉ lệ này chỉ còn 10-20%. Cập nhật thông tin chi tiết về Mô Bệnh Học Của Ung Thư Dạ Dày trên website Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!
ung thư da bệnh học