viêm dạ dày ruột ở trẻ nhỏ

+ Dễ viêm nhiễm hô hấp do trào ngược. + Gây mê hồi sức chưa quen. 2. HỘI CHỨNG TẮC RUỘT SƠ SINH. 2.1. Một số nét về sinh lý tiêu hóa. 2.1.1. Hơi: Có sau 6 giờ. 2.1.2. Phân xu: Sau đẻ vài giờ trẻ ra phân xu, trẻ đẻ non ỉa phân xu mộn hơn (80% có rong 24 giờ). Viêm ruột hay còn gọi là nhiễm khuẩn đường ruột là bệnh do vi khuẩn, vi rút hoặc các ký sinh trùng gây nên. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi không phân biệt nam nữ và đặc biệt ở trẻ nhỏ do hệ thống miễn dịch còn non yếu chưa hoàn thiện. Bệnh làm cho thành ruột bắt đầu sưng rồi gây viêm loét dạ dày ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Viêm dạ dày ruột là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày và / hoặc ruột do mầm bệnh có thể là vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng gây ra. Những vi sinh vật này là nguyên nhân gây ra 80% bệnh viêm dạ dày ruột ở trẻ sơ sinh, vì chúng có cơ sở để phát triển bệnh Hiểu về hệ vi sinh đường ruột của trẻ. Hệ vi sinh vật đường ruột của con người có tới hơn 1000 chủng vi khuẩn khác nhau. Bao gồm cả vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại. Viêm dạ dày ở trẻ nhỏ là nguyên nhân khiến con đau đớn, mệt mỏi và kém hấp thu. Bên cạnh Ở trẻ suy dinh dưỡng, tắc ruột có thể gây thủng ruột và viêm phúc mạc mà triệu chứng lâm sàng kín đáo khó nhận biết được. Điều trị Trường hợp bụng chướng hoặc nôn nhiều có thể cho thuốc tẩy giun qua ống thông mũi dạ dày. Hồi phục nước và điện giải bằng cho bệnh nhi uống ORS hoặc cho truyền dịnh. Viêm dạ dày là bệnh thường gặp trong dân số chung, Biểu hiện bệnh thông thường là đau vùng thượng vị trả được hoàn thiện với thời gian chữa trị 3 tác động ảnh hưởng và 2 chế tác sinh học nhỏ. Bệnh cam đường ruột ở trẻ em. Vay Nhanh Fast Money. 29/12/2020 Viêm dạ dày ruột thường là do virut. Các virut thường gặp nhất là Norovirus Rotavirus Astrovirus Adenovirus Virut nhiễm vào các tế bào ruột trong biểu mô của ruột non làm thoát muối và nước vào trong lòng ruột; đôi khi, giảm hấp thu carbohydrate làm tiêu chảy thấm thấu nặng thêm. Norovirus Từ khi có vắc-xin rotavirus, norovirus đã trở thành nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng 80% xảy ra từ tháng 11 đến tháng 4. Hiện nay, norovirus là nguyên nhân chính gây ra viêm dạ dày ruột thành dịch và không thành dịch ở mọi lứa tuổi; tuy nhiên, thường gặp nhất ở trẻ em từ 6 đến 18 tháng tuổi. Các đợt bùng phát dịch lớn có thể thông qua nguồn nước và thực phẩm. Việc lây truyền từ người sang ngư ời cũng xảy ra vì virut rất dễ lây. Thời gian ủ bệnh là 24 đến 48 giờ. Rotavirus Là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tiêu chảy mất nước nặng nhưng không thành dịch ở trẻ nhỏ trên toàn thế giới đặc biệt là trẻ từ 3 đến 15 tháng tuổi. Rotavirus rất dễ lây; hầu hết các nhiễm trùng xảy ra theo đường phân-miệng. Người lớn có thể bị nhiễm bệnh sau khi tiếp xúc gần với một trẻ bị nhiễm bệnh. Bệnh ở người lớn nói chung là nhẹ. Thời gian ủ bệnh là từ 1 đến 3 ngày. Ở khí hậu ôn đới, hầu hết bệnh xảy ra vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3. Xem thêm bài viết Viêm dạ dày ruột do Rotavirus và vaccine Astrovirus Có thể lây nhiễm cho mọi người ở mọi lứa tuổi nhưng thường gây nhiễm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Bệnh phổ biến nhất vào mùa đông. Đường truyền là đường phân- miệng. Ủ bệnh là từ 3 đến 4 ngày. Adenovirus Là nguyên nhân phổ biến thứ tư của viêm dạ dày ruột do virut ở trẻ em. Nhiễm trùng xảy ra quanh năm và tăng nhẹ vào mùa hè. Bệnh thường gặp ở trẻ < 2 tuổi. Đường truyền là đường phân- miệng Ủ bệnh từ 3 đến 10 ngày. Rotavirus là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tiêu chảy nặng mất nước không thành dịch ở trẻ nhỏ trên toàn thế giới đặc biệt là trẻ từ 3 đến 15 tháng tuổi. Chẩn đoán dựa trên nghi ngờ lâm sàng, nhưng có thể làm xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase trong khuôn khổ của bảng xét nghiệm đa chủng cho nhiều nguyên nhân gây viêm dạ dày ruột cấp tính. Điều trị hỗ trợ bằng dịch uống, nhưng đôi khi cần truyền dịch tĩnh mạch. Các xét nghiệm dựa trên miễn dịchXét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase PCRXét nghiệm chẩn đoán không được thực hiện thường xuyên ngoại trừ chẩn đoán đợt bùng phát dịch; khi thực hiện, nó liên quan đến các xét nghiệm để xác định rotavirus trong phân. Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym ELISA và xét nghiệm ngưng kết latex là hai xét nghiệm thường được sử dụng. Xét nghiệm axit nucleic PCR rất nhạy cảm và thường được thực hiện trong bảng xét nghiệm PCR đa chủng, bao gồm một số nguyên nhân gây viêm dạ dày ruột. Dịch theo đường uống hoặc đường tĩnh mạchĐôi khi thuốc chống tiêu chảy và/hoặc thuốc chống nônDịch đẳng trương theo đường tĩnh mạch như Ringer lactate và dung dịch nước muối sinh lý thông thường nên được cho dùng khi mất nước nặng, sốc, hoặc tình trạng tâm thần bị thay đổi và liệu pháp bù nước bằng đường uống thất bại hoặc tắc ruột cơ năng xem thêm Hướng dẫn thực hành lâm sàng trong chẩn đoán và xử trí tiêu chảy nhiễm trùng năm 2017 của Hiệp hội Bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ [IDSA]. Trong trường hợp mất nước nặng, nên tiếp tục bù nước qua đường tĩnh mạch cho đến khi mạch, tình trạng tưới máu và trạng thái tinh thần bình thường trở chống tiêu chảy không nên cho trẻ em < 18 tuổi bị tiêu chảy cấp dùng xem hướng dẫn của IDSA. Thuốc chống tiêu chảy có thể được xem xét ở những bệnh nhân người lớn bị tiêu chảy phân toàn nước thể hiện qua phân âm tính với heme, đặc biệt là trong đợt bùng phát, dịch, cho thấy có khả năng nguyên nhân là do vi rút. Tuy nhiên, thuốc chống tiêu chảy có thể khiến tình trạng bệnh nhân nhiễm Clostridioides difficile hoặc E. coli O157 H7 xấu đi và do đó không nên cho bất kỳ bệnh nhân nào chưa xác định được nguyên nhân gây tiêu chảy và nghi ngờ có những rối loạn này tức là do sử dụng kháng sinh gần đây, tiêu chảy phân có máu, phân dương tính với heme hoặc tiêu chảy kèm theo sốt sử dụng. Viêm dạ dày ruột do Rotavirus đã giảm đáng kể ở các nước sử dụng rộng rãi vắc-xin rotavirus, nhưng nó vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh tiêu chảy nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế biến lâm sàng có thể kéo dài từ 5 đến 7 nước bằng đường uống thường là đủ, nhưng có thể cần dùng thuốc chống nôn và đôi khi là truyền dịch qua đường tĩnh chống tiêu chảy an toàn cho người lớn bị tiêu chảy phân toàn nước nhưng nên tránh dùng cho trẻ em < 18 tuổi và ở bất kỳ bệnh nhân nào sử dụng kháng sinh gần đây, tiêu chảy phân có máu, phân dương tính với heme hoặc tiêu chảy kèm theo sốt. Sau đây là một nguồn thông tin bằng tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng CẨM NANG không chịu trách nhiệm về nội dung của tài liệu này. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền. Nguồn chủ đề Lồng ruột là lồng một phần của ruột phần ruột bị lồng vào một phần của đoạn ruột liền kề phần ruột nhận ruột lồng, gây tắc ruột và đôi khi gây thiếu máu ruột cục bộ. Chẩn đoán bằng siêu âm. Điều trị bằng bơm hơi và đôi khi bằng phẫu ruột thường xảy ra ở trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi, với 65% số trường hợp xảy ra trước 1 tuổi và 80 - 90% số trường hợp xảy ra trước 2 tuổi. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của tắc ruột ở lứa tuổi này và xảy ra gần như ngang nhau ở trẻ em nam và nữ 4 tuổi, lồng ruột phổ biến hơn nhiều ở nam 81.Đoạn ruột lồng làm tắc ruột và cuối cùng làm giảm lưu lượng máu đến đoạn ruột bị lồng xem Hình Lồng ruột. Lồng ruột. , gây thiếu máu, hoại tử và thủng. Lồng ruột Hầu hết các trường hợp đều không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, có chiếm ưu thế nhẹ ở nam cũng như thay đổi theo mùa; tỷ lệ mắc cao nhất trùng với mùa viêm ruột do vi rút. Vắc xin rotavirus ngày xưa có liên quan đến sự gia tăng rõ rệt về nguy cơ bị lồng ruột và đã bị loại khỏi thị trường ở Hoa Kỳ. Các loại vắc xin rotavirus mới hơn, được đưa ra theo khuyến cáo về trình tự và thời gian, không liên quan đến bất kỳ sự gia tăng nguy cơ có ý nghĩa nào trên lâm sàng. Ở khoảng 25% số trẻ bị lồng ruột, đặc biệt là trẻ rất nhỏ và trẻ lớn hơn, một điểm quan trọng tức là một khối u hoặc một bất thường khác ở ruột là lồng ruột. Một số ví dụ bao gồm polyp Polyp đại tràng và trực tràng Polyp ruột là bất kỳ khối mô nào phát sinh từ thành ruột và nhô vào tronglòng ruột. Hầu hết không có triệu chứng ngoại trừ chảy máu nhẹ, thường là âm thầm. Vấn đề chính là sự chuyển dạng ác... đọc thêm , u lympho Tổng quan về u lympho U lympho là một nhóm bệnh không đồng nhất gồm nhiều loại u khác nhau phát sinh từ hệ thống lưới nội mô và hệ bạch huyết. Các loại chính là U lympho Hodgkin U lympho non-Hodgkin Xem bảng So sánh... đọc thêm , túi thừa Mekel Túi thừa Meckel Túi thừa Meckel là một túi thừa thực sự và là dị tật bẩm sinh phổ biến nhất của đường tiêu hóa, xảy ra ở khoảng 2% số người. Đó là do quá trình thoái hóa không hoàn toàn của ống noãn hoàng và... đọc thêm , và viêm mạch có liên quan đến globulin miễn dịch A Viêm mạch do Immunoglobulin A IgAV Viêm mạch do IgA trước đây gọi là xuất huyết Schonlein Henoch thường ảnh hưởng tới các mạch máu nhỏ. Bệnh thường gặp ở trẻ em. Các biểu hiện thường gặp bao gồm sẩn xuất huyết, đau khớp, các... đọc thêm trước đây gọi là bệnh xuất huyết Schönlein-Henoch khi ban xuất huyết ở thành ruột. Bệnh xơ nang Xơ nang Xơ nang là một bệnh di truyền của các tuyến ngoại tiết ảnh hưởng chủ yếu đến hệ thống hô hấp và hệ tiêu hóa. Nó dẫn đến bệnh phổi mãn tính, suy tụy ngoại tiết, bệnh gan mật, và bất thường tăng... đọc thêm cũng là một yếu tố nguy cơ. Các triệu chứng và dấu hiệu của lồng ruột Các triệu chứng ban đầu của lồng ruột là khởi phát đột ngột, đau bụng dữ dội từng cơn, các cơn tái phát 15- 20 phút một lần, thường có nôn. Trẻ tương đối ổn giữa các cơn đau bụng. Sau đó, khi có thiếu máu cục bộ ở ruột, cơn đau không thay đổi, trẻ trở nên li bì và xuất huyết niêm mạc làm cho phân dương tính với hem khi khám trực tràng và đôi khi đi ngoài ra phân nhày máu. Tuy nhiên, dấu hiệu sau xảy ra ở giai đoạn muộn và các bác sĩ không nên chờ đợi cho đến khi có triệu chứng này để nghi ngờ là có lồng ruột. Đôi khi khám có thể sờ thấy một khối ở bụng, có hình giống một chiếc xúc xích. Thủng ruột biểu hiện bằng các dấu hiệu của viêm phúc mạc với nhạy cảm đau đáng kể, phản ứng thành bụng và co cứng cơ thành bụng. Xanh tái, nhịp tim nhanh và vã mồ hôi cho thấy 5 đến 10% số trẻ không có pha đau bụng thành cơn. Thay vào đó, trẻ có biểu hiện li bì, như thể dùng thuốc phiện biểu hiện khác thường hoặc thờ ơ. Trong những trường hợp này, chẩn đoán lồng ruột thường dễ bị bỏ qua cho đến khi có phân nhầy máu hoặc sờ thấy khối ở bụng. Siêu âmThụt barit là một nghiên cứu ban đầu được ưa sử dụng vì nó cho thấy hình ảnh chuỗi xoắn dạng lò xo kinh điển xung quanh đoạn lồng ruột. Bên cạnh chẩn đoán, thụt barit cũng thường là để điều trị; áp lực của barit thường sẽ tháo các đoạn ruột lồng. Tuy nhiên, đôi khi barit đi vào khoang phúc mạc qua một lỗ thủng không phát hiện được trên lâm sàng và gây nên viêm phúc mạc đáng kể. Hiện nay, siêu âm là phương tiện chẩn đoán được ưu tiên; vì nó thực hiện dễ dàng, tương đối rẻ tiền và an toàn; dấu hiệu đặc trưng được gọi là dấu hiệu bia khi, lồng ruột được nhìn thấy tình cờ trên một nghiên cứu hình ảnh, chẳng hạn như chụp CT. Nếu trẻ không có triệu chứng lồng ruột thì có thể theo dõi và không cần can thiệp. Bơm hơiPhẫu thuật nếu bơm hơi thất bại hoặc có thủng ruộtNếu xác định là lồng ruột thì bơm hơi được dùng để tháo lồng, việc này sẽ làm giảm bớt khả năng gây thủng ruột và hậu quả của thủng ruột. Phương pháp tháo lồng này có thể thành công từ 75-95% số trẻ. Nếu bơm hơi thành công, trẻ cần được theo dõi thêm qua đêm để loại trừ bị thủng ruột. Nếu tháo lồng thất bại hoặc nếu thủng ruột thì cần phải phẫu thuật ngay lập tức. Nếu tháo lồng thành công mà không cần phẫu thuật, tỷ lệ tái phát là từ 5 đến 10%. Lồng ruột là lồng một đoạn ruột vào một đoạn ruột khác, thường ở trẻ < 3 thường có đau bụng từng cơn và nôn, sau đó là đi ngoài phân nhày đoán bằng siêu trị tháo lồng bằng bơm hơi và đôi khi bằng phẫu thuật. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.

viêm dạ dày ruột ở trẻ nhỏ